Sidebar

Magazine menu

29
T6, 05

Phan Duy Hiệp

Trường Đại học Văn Lang, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam

Ngày nhận: 20/10/2025; Ngày hoàn thành biên tập: 27/03/2026; Ngày duyệt đăng: 18/05/2026

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.102025.1414

Tóm tắt: Trong bối cảnh marketing xanh trên mạng xã hội ngày càng phổ biến, việc làm rõ cơ chế thông qua đó các thông điệp môi trường chuyển hóa thành lòng trung thành thương hiệu của Gen Z vẫn chưa được giải thích đầy đủ trong các nghiên cứu trước. Nghiên cứu này nhằm phân tích mối quan hệ giữa marketing xanh trên mạng xã hội và lòng trung thành thương hiệu thông qua một mô hình trong đó ý thức môi trường, tin cậy thương hiệu và giá trị nhận thức đóng vai trò trung gian. Dữ liệu từ khảo sát trực tuyến 426 người thuộc Gen Z tại Thành phố Hồ Chí Minh bằng bảng hỏi thang đo Likert được phân tích bằng phương pháp PLS-SEM. Kết quả cho thấy marketing xanh không tác động trực tiếp đến lòng trung thành, mà ảnh hưởng gián tiếp thông qua ý thức môi trường, tin cậy và giá trị nhận thức, trong đó tin cậy giữ vai trò trung tâm. Phát hiện này làm rõ tiến trình nhận thức - đánh giá - hành vi trong bối cảnh tiêu dùng xanh đô thị, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học giúp định hướng xây dựng chiến lược marketing xanh dựa trên cơ chế tâm lý thay vì chỉ dựa vào cường độ truyền thông.

Từ khóa: Marketing xanh, Lòng trung thành thương hiệu, Tin cậy thương hiệu, Ý thức môi trường, Giá trị nhận thức 

GREEN SOCIAL MEDIA MARKETING AND BRAND LOYALTY: THE MEDIATING ROLE OF ENVIRONMENTAL AWARENESS, TRUST, AND PERCEIVED VALUE AMONG URBAN GEN Z

Abstract: In the context of the increasing prevalence of green marketing on social media, the mechanism through which environmental messages are transformed into brand loyalty among Generation Z remains insufficiently explained in prior studies. This study aims to examine the relationship between green marketing on social media and brand loyalty through a model in which environmental awareness, brand trust, and perceived value act as mediating variables. Data were collected from an online survey of 426 Generation Z respondents in Ho Chi Minh City using a Likert-scale questionnaire and analyzed using the partial least squares structural equation modeling (PLS-SEM) approach. The results indicate that green marketing does not exert a direct effect on brand loyalty but influences it indirectly through environmental awareness, brand trust, and perceived value, with trust playing a central role in the process. These findings clarify the cognitive–evaluative–behavioral process underlying green consumption in an urban context and provide a scientific basis for guiding the development of green marketing strategies that focus on psychological mechanisms rather than relying solely on the intensity of communication efforts.

Keywords: Green Marketing, Brand Loyalty, Brand Trust, Environmental Awareness, Perceived Value

Lê Quốc Hội

Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, Việt Nam

Phan Thúy Thảo

Trường Đại học Thủy Lợi, Hà Nội, Việt Nam

Nguyễn Thanh Hải

Ngân hàng Vietcombank, Hà Nội, Việt Nam

Phan Thùy Tâm

Trường Đại học Thủy Lợi, Hà Nội, Việt Nam

Ngày nhận: 10/03/2026; Ngày hoàn thành biên tập: 25/05/2026; Ngày duyệt đăng: 28/05/2026

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.032026.1464

 

 

Tóm tắt: Nghiên cứu nhằm đo lường mức độ chuyển đổi số của các ngân hàng thương mại Việt Nam thông qua việc xây dựng Chỉ số chuyển đổi số tổng hợp (DTI) theo tiếp cận đa chiều. Dữ liệu từ báo cáo thường niên, báo cáo quản trị và báo cáo tài chính công bố công khai của 29 ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2015-2024 được phân tích bằng phương pháp phân tích thành phần chính (PCA) nhằm xây dựng chỉ số tổng hợp trên cơ sở ba trụ cột gồm chiến lược và định hướng số hóa, ứng dụng số trong sản phẩm - dịch vụ và năng lực công nghệ - tổ chức nội bộ. Kết quả cho thấy ba chỉ số thành phần đều có hệ số tải dương trong PC1, trong đó chiến lược và định hướng số hóa có hệ số tải cao nhất (0,627), tiếp đến là ứng dụng số trong sản phẩm - dịch vụ (0,619) và năng lực công nghệ - tổ chức nội bộ (0,473). Chỉ số DTI toàn hệ thống có xu hướng tăng rõ rệt từ mức -1,328 năm 2015 lên 1,456 năm 2024, phản ánh tiến trình chuyển đổi số ngày càng sâu rộng nhưng vẫn tồn tại khoảng cách đáng kể giữa các ngân hàng về mức độ trưởng thành số. Từ đó, bài viết cung cấp thước đo định lượng phục vụ đánh giá thực trạng chuyển đổi số ngân hàng, đồng thời gợi mở hàm ý quản trị và chính sách nhằm thúc đẩy chuyển đổi số theo hướng đồng bộ và bền vững.

Từ khóa: Chuyển đổi số, Chỉ số tổng hợp, Phân tích thành phần chính (PCA)

A MULTIDIMENSIONAL COMPOSITE INDEX FOR MEASURING DIGITAL TRANSFORMATION IN VIETNAMESE COMMERCIAL BANKS

Abstract: This study aims to measure the level of digital transformation among Vietnamese commercial banks through the construction of a composite Digital Transformation Index (DTI) based on a multidimensional approach. Data drawn from publicly available annual reports, corporate governance reports, and financial statements of 29 Vietnamese commercial banks over the period 2015-2024 were analyzed using Principal Component Analysis (PCA) to develop a composite index grounded in three pillars: digital strategy and orientation, digital application in products and services, and technological and organizational capability. The results reveal that all three sub-indices carry positive loadings on the first principal component (PC1), with digital strategy and orientation recording the highest loading (0.627), followed by digital application in products and services (0.619) and technological and organizational capability (0.473). The system-wide DTI exhibits a pronounced upward trend, rising from −1.328 in 2015 to 1.456 in 2024, reflecting an increasingly deep and broad digital transformation process while still revealing a considerable gap in digital maturity across banks. On this basis, the study provides a quantitative measure for assessing the current state of digital transformation in the Vietnamese banking sector, and offers managerial and policy implications aimed at promoting digital transformation in a synchronized and sustainable manner. 

Keywords: Digital Transformation, Composite Index, Principal Component Analysis (PCA)

Bùi Thùy Linh

Học viện Chính sách và Phát triển, Hà Nội, Việt Nam

Trần Trọng Nguyên

Học viện Chính sách và Phát triển, Hà Nội, Việt Nam

Hồ Đình Bảo

Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, Việt Nam

Ngày nhận: 02/02/2026; Ngày hoàn thành biên tập: 16/04/2026; Ngày duyệt đăng: 27/05/2026

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.022026.1452

Tóm tắt: Nghiên cứu nhằm so sánh các thành phần của tăng trưởng năng suất lao động giữa nhóm nước phát triển và đang phát triển. Dữ liệu từ 74 quốc gia trong giai đoạn 2000-2023 được phân tích bằng phương pháp dịch chuyển tỷ trọng (Shift Share Analysis-SSA). Kết quả cho thấy nhóm nước đang phát triển đạt tốc độ tăng năng suất cao hơn, qua đó thu hẹp khoảng cách về năng suất tổng thể và năng suất ngành dịch vụ; tuy nhiên, chênh lệch năng suất trong ngành công nghiệp có xu hướng gia tăng, trong khi khoảng cách năng suất nông nghiệp chưa được cải thiện đáng kể. Tăng trưởng năng suất của nhóm này được thúc đẩy bởi cả tăng trưởng nội ngành và hiệu ứng chuyển dịch cơ cấu. Ngành dịch vụ đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng năng suất, bên cạnh vai trò nổi bật hơn của ngành công nghiệp so với nhóm nước phát triển, trong khi đóng góp của nông nghiệp còn hạn chế. Đối với nhóm nước phát triển, tăng trưởng nội ngành tiếp tục là động lực chủ đạo của tăng trưởng năng suất, còn hiệu ứng cơ cấu tuy tích cực nhưng tương đối nhỏ. Ngành dịch vụ giữ vai trò dẫn dắt tăng trưởng, tiếp đến là ngành công nghiệp, trong khi khu vực nông nghiệp làm suy giảm tốc độ tăng năng suất chung. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm thúc đẩy tăng trưởng năng suất trong bối cảnh kinh tế hiện nay.

Từ khóa: Chuyển dịch cơ cấu, Phương pháp dịch chuyển tỷ trọng, Tăng trưởng năng suất lao động

COMPARISON OF LABOR PRODUCTIVITY GROWTH BETWEEN DEVELOPED AND DEVELOPING COUNTRIES DURING THE PERIOD  2000-2023

Abstract: The study aims to compare the components of labor productivity growth between developed and developing countries. Data from 74 countries over the period 2000-2023 were analyzed using the shift-share method. The results indicate that developing countries achieved higher productivity growth rates, thereby narrowing the gaps in overall productivity and service-sector productivity. However, productivity disparities in the industrial sector tended to widen, while the productivity gap in agriculture showed little improvement. Productivity growth in this group was driven by both within-sector growth and structural change effects. The service sector contributed the most to productivity growth, alongside a more prominent role of industry compared to developed countries, whereas the contribution of agriculture remained limited. For developed countries, within-sector growth continued to be the primary driver of productivity growth, while the structural effect, although positive, remained relatively modest. The service sector played the leading role in driving growth, followed by industry, whereas the agricultural sector reduced overall productivity growth. Based on these findings, the study proposes several managerial implications to promote productivity growth in the current economic context.

Keywords:  Structural Transformation, Shift-Share Analysis, Labor Productivity Growth

Đỗ Hương Giang

Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam 

Trần Quốc Tuấn

Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam, Hà Nội, Việt Nam

Nguyễn Thị Hoa

Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam

Ngày nhận: 11/12/2025; Ngày hoàn thành biên tập: 31/03/2026; Ngày duyệt đăng: 21/05/2026

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.122025.1427

Tóm tắt: Nghiên cứu nhằm kiểm chứng tác động của mô hình làm việc kết hợp đến hiệu suất công việc của nhân viên tại Việt Nam; đồng thời xem xét vai trò trung gian của năm nhân tố gồm: niềm tin và sự tương hỗ, sự gắn kết công việc, sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống, căng thẳng công nghệ, sự phù hợp giữa cá nhân và tổ chức. Dữ liệu từ 359 nhân viên đang làm việc theo mô hình làm việc kết hợp được phân tích bằng phương pháp định lượng thông qua phần mềm SmartPLS 4.0. Kết quả cho thấy mô hình làm việc kết hợp có tác động tích cực trực tiếp đến hiệu suất công việc của nhân viên; đồng thời, cả năm nhân tố đều đóng vai trò trung gian một phần trong mối quan hệ này. Trên cơ sở đó, bài viết góp phần làm phong phú thêm cơ sở lý luận về cơ chế tác động của mô hình làm việc kết hợp đến hiệu suất làm việc của nhân viên, cung cấp bằng chứng thực nghiệm mới cho các nền kinh tế đang phát triển, đồng thời đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm hỗ trợ các nhà quản lý nâng cao hiệu suất làm việc của nhân viên thông qua việc triển khai hiệu quả mô hình này.

Từ khóa: Hiệu suất làm việc của nhân viên, Làm việc kết hợp, Sự cân bằng công việc và cuộc sống, Sự phù hợp giữa cá nhân và tổ chức, Việt Nam

THE IMPACT OF HYBRID WORK ARRANGEMENTS ON EMPLOYEE JOB PERFORMANCE IN VIETNAM

Abstract: This study aims to examine the impact of the hybrid work model (HW) on employee performance (EP) in Vietnam, while also investigating the mediating roles of five factors, including trust and reciprocity (TR), work engagement (WE), work–life balance (WLB), technostress (TN), and person–organization fit (POF). Data collected from 359 employees working under a hybrid work arrangement were analyzed using quantitative methods with SmartPLS 4.0. The results indicate that the hybrid work model has a direct and positive effect on employee performance; moreover, all five factors partially mediate the relationship between hybrid work and employee performance. These findings enrich the theoretical literature by providing deeper insights into the mechanisms through which hybrid work influences employee performance, offer new empirical evidence from developing economies, and propose managerial implications to support managers in enhancing employee performance through the effective implementation of this work model.

Keywords: Employee Performance, Hybrid Work, Person - Organization Fit, Work - Life Balance, Vietnam

Bùi Hồng Trang

Học viện Ngân hàng, Hà Nội, Việt Nam

Lê Kiều Phương

Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam

Lê Thu Trang 

Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam

Ngày nhận: 25/02/2026; Ngày hoàn thành biên tập: 16/03/2026; Ngày duyệt đăng: 26/05/2026

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.022026.1459

Tóm tắt: Nghiên cứu xem xét tác động của biến thiên nhiệt độ đến khối lượng xuất khẩu cao su tự nhiên của Việt Nam trong bối cảnh rủi ro khí hậu ngày càng gia tăng, qua đó ảnh hưởng bất lợi đến sản xuất, cung ứng và năng lực xuất khẩu của ngành cao su Việt Nam. Dữ liệu thương mại song phương giữa Việt Nam và 40 đối tác trong giai đoạn 2001-2023 được phân tích trên cơ sở mô hình trọng lực mở rộng, ước lượng bằng phương pháp FGLS có kiểm soát các cú sốc vĩ mô chung và tích hợp độ trễ sinh học. Kết quả cho thấy các cú sốc nhiệt độ không tác động tức thời mà có ảnh hưởng ngược chiều (tiêu cực) với độ trễ một năm đến khối lượng xuất khẩu cao su, phản ánh di chứng của thời tiết cực đoan lên chu kỳ sinh trưởng của tuyến mủ. Đồng thời, năng lực thích ứng với các cú sốc khí hậu của quốc gia đóng vai trò điều tiết quan trọng, giúp làm giảm thiểu các tổn thất xuất khẩu này. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất hàm ý chính sách nhằm chuyển đổi sang tư duy quản trị rủi ro khí hậu, tăng cường khả năng thích ứng khí hậu trong chuỗi giá trị cao su, kết hợp nâng cao năng lực chống chịu, cải thiện hiệu quả logistics và định hướng thị trường, qua đó duy trì ổn định nguồn cung và năng lực cạnh tranh xuất khẩu trong điều kiện nhiệt độ biến động.

Từ khóa: Nhiệt độ, Biến đổi khí hậu, Xuất khẩu cao su, Mô hình trọng lực, Việt Nam

THE IMPACT OF TEMPERATURE CHANGE ON VIETNAM’S RUBBER EXPORTS: EVIDENCE FROM PANEL DATA, 2001-2023

Abstract: This study investigates the impact of temperature variation on Vietnam’s natural rubber export volume in the context of intensifying climate risks, which may adversely affect production, supply capacity, and export performance in the country’s rubber sector. A balanced panel of bilateral trade data between Vietnam and 40 trading partners over the period 2001-2023 is examined using an augmented gravity model estimated by the Feasible Generalized Least Squares (FGLS) method, systematically controlling for macroeconomic shocks and integrating biological lags. The empirical findings reveal that temperature shocks do not exert an instantaneous effect; rather, they demonstrate a delayed negative impact on export volume with a one-year lag, reflecting the lingering consequences of extreme weather on the physiological cycle of latex production. Concurrently, national adaptive capacity to climate shocks plays a crucial moderating role, effectively mitigating these export losses. The paper proposes policy implications emphasizing a strategic shift towards climate risk management., strengthening climate adaptation across the rubber value chain, enhancing reliance, improving logistics efficiency, and refine market orientation, thereby helping sustain supply stability and export competitiveness under changing temperature conditions.

Keywords: Temperature, Climate Change, Rubber Exports, Gravity Model, Vietnam

Trần Thị Thu Thủy 

Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam

Ngày nhận: 19/01/2026; Ngày hoàn thành biên tập: 20/04/2026; Ngày duyệt đăng: 20/05/2026

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.012026.1444

Tóm tắt: Nghiên cứu phân tích các nhân tố có tác động lớn nhất đến mong muốn gắn bó của người lao động Việt Nam tại doanh nghiệp Nhật Bản ở Việt Nam. Dữ liệu từ 130 cựu sinh viên Trường Đại học Ngoại thương đã hoặc đang làm việc tại các doanh nghiệp Nhật Bản được phân tích bằng phương pháp thống kê mô tả. Kết quả cho thấy bốn nhân tố có tác động lớn nhất đến mong muốn gắn bó của người lao động gồm chính sách đãi ngộ, mối quan hệ đồng nghiệp, cơ hội phát triển chuyên môn và hệ thống đánh giá người lao động. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các nhóm giải pháp giúp doanh nghiệp Nhật Bản xây dựng chiến lược duy trì người lao động phù hợp với bối cảnh nguồn nhân lực Việt Nam.

Từ khóa: Doanh nghiệp Nhật Bản, Động lực làm việc, Duy trì người lao động, Sự gắn bó lâu dài

VIETNAMESE EMPLOYEES’ ORGANIZATIONAL COMMITMENT IN JAPANESE ENTERPRISES 

Abstract: The study examines the key factors influencing Vietnamese employees’ intention to remain with Japanese companies in Vietnam. Data from 130 alumni of the Foreign Trade University who have worked or are currently working in Japanese firms were analyzed using descriptive statistics. The results indicate that four main factors have the strongest impact on employees’ retention intention: compensation policies, coworker relationships, opportunities for professional development, and employee evaluation systems. Based on these findings, the study proposes several solutions to help Japanese companies develop effective employee retention strategies suited to the Vietnamese labor context.

Keywords: Japanese Enterprises, Work Motivation, Employee Retention, Long-Term Commitment

Hoàng Xuân Bình

Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam

Nguyễn Khánh Linh

Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam

Lê Huyền Trang

Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam

Lưu Bảo Ngọc

Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam

Ngày nhận: 06/10/2025; Ngày hoàn thành biên tập: 20/04/2026; Ngày duyệt đăng: 25/05/2026

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.102025.1379

Tóm tắt: Nghiên cứu xem xét tác động của nợ công đến tăng trưởng kinh tế, với trọng tâm là vai trò điều tiết của chất lượng thể chế. Dữ liệu từ 36 quốc gia Châu Á giai đoạn 2008-2024 được phân tích bằng phương pháp ước lượng hệ thống GMM hai bước nhằm xử lý vấn đề nội sinh và động học. Chất lượng thể chế được đo lường thông qua phân tích nhân tố tổng hợp (PCA) từ sáu chỉ số của bộ chỉ số quản trị toàn cầu (WGI). Kết quả chỉ ra, không tồn tại bằng chứng cho thấy nợ công có ảnh hưởng tiêu cực lên tăng trưởng kinh tế trong mẫu nghiên cứu. Đồng thời, chất lượng thể chế đóng vai trò điều tiết tích cực đối với mối quan hệ này. Hiệu ứng điều tiết chủ yếu thông qua ba kênh: kiểm soát tham nhũng, hiệu quả chính phủ và chất lượng khung quy định. Các phát hiện nhấn mạnh tầm quan trọng của cải cách thể chế nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nợ công, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.

Từ khóa: Châu Á, Nợ công, Tăng trưởng kinh tế, Thể chế, S-GMM

THE IMPACT OF PUBLIC DEBT ON ECONOMIC GROWTH IN ASIA:

THE MODERATING ROLE OF INSTITUTIONS

Abstract: This paper investigates the impact of public debt on economic growth with a focus on the moderating role of institutional quality. Data from 36 Asian countries over the period 2008-2024 are analyzed using the two-step System GMM estimation method to address issues of endogeneity and dynamic effects. Institutional quality is measured by Principal Component Analysis (PCA) based on six indicators of the Worldwide Governance Indicators (WGI). The results show no evidence of a direct negative effect of public debt on economic growth in the sample. Meanwhile, institutional quality plays a positive moderating role in this relationship. This effect primarily operates through three channels: control of corruption, government effectiveness, and regulatory quality. The findings highlight the importance of institutional reforms to enhance the efficiency of public debt and promote sustainable economic growth.

Keywords: Public debt, Economic growth, Institutions, S-GMM, Asia

Các bài khác...