Sidebar

Magazine menu

01
T5, 10

Nguyễn Thanh Hương

Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng, Đà Nẵng, Việt Nam

Phan Đình Hoàng

Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng, Đà Nẵng, Việt Nam

Ngày nhận: 01/12/2025; Ngày hoàn thành biên tập: 11/08/2026; Ngày duyệt đăng: 29/09/2026

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.122025.1424

Tóm tắt: Nghiên cứu nhằm đánh giá tác động của kinh nghiệm quân ngũ CEO đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp tại Việt Nam. Dữ liệu bảng từ 243 công ty phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) giai đoạn 2013-2021 được phân tích bằng mô hình bình phương nhỏ nhất gộp (Pooled OLS), mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (Random Effects), phương pháp ghép cặp điểm xu hướng (Propensity Score Matching) và phương pháp cân bằng Entropy (Entropy Balancing). Để kiểm tra tính bền vững của kết quả, ước lượng bổ sung được thực hiện trên mẫu dữ liệu loại trừ giai đoạn chịu ảnh hưởng của đại dịch Covid-19. Kết quả cho thấy các doanh nghiệp có CEO từng phục vụ trong quân đội đạt tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) cao hơn so với các doanh nghiệp có CEO không có kinh nghiệm quân ngũ. Từ đó, bài viết bổ sung bằng chứng thực nghiệm về vai trò của đặc điểm cá nhân nhà quản lý đối với hiệu quả tài chính doanh nghiệp để đưa ra những hàm ý hữu ích cho công tác tuyển dụng, đào tạo và đánh giá đội ngũ lãnh đạo cấp cao trong bối cảnh Việt Nam.

Từ khóa: Kinh nghiệm quân ngũ của CEO, Hiệu quả tài chính, Việt Nam

IMPACT OF CEO MILITARY EXPERIENCE ON FINANCIAL PERFORMANCE OF COMPANIES LISTED ON THE HANOI STOCK EXCHANGE

Abstract: This study examines the impact of CEOs’ military experience on the financial performance of Vietnamese firms. Using panel data from 243 non-financial companies listed on the Hanoi Stock Exchange (HNX) over the 2013–2021 period, the study employs pooled ordinary least squares (OLS), random-effects models, propensity score matching, and entropy balancing. To assess the robustness of the findings, additional estimations are conducted after excluding the period affected by the COVID-19 pandemic. The results show that firms led by CEOs with prior military service achieve higher returns on assets (ROA) and returns on equity (ROE) than firms led by CEOs without military experience. The study thus provides further evidence on the role of managerial personal characteristics in shaping corporate financial performance and offers useful implications for the recruitment, training, and evaluation of senior executives in the Vietnamese context.

Keywords: CEO Military Experience, Financial Performance, Vietnam

 

 

Lê Hoàng Quốc Khanh

Trường Đại học Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam

Nguyễn Thị Tuyết Nga

Trường Đại học Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam

Ngày nhận: 08/07/2025; Ngày hoàn thành biên tập: 18/08/2026; Ngày duyệt đăng: 30/09/2026

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.072025.1313

Tóm tắt: Nghiên cứu nhằm phân tích tác động của các yếu tố trò chơi hóa đến ý định mua lại của thế hệ Gen Z trên các nền tảng thương mại điện tử tại Việt Nam. Dữ liệu từ 302 người tiêu dùng thuộc thế hệ Gen Z đã từng mua sắm và trải nghiệm các yếu tố trò chơi hóa trên các nền tảng thương mại điện tử tại Việt Nam được phân tích bằng phương pháp định lượng với mô hình phương trình cấu trúc bình phương tối thiểu từng phần (PLS-SEM), sử dụng phần mềm SPSS và SmartPLS. Kết quả cho thấy các yếu tố trò chơi hóa, gồm huy hiệu, động lực, cơ chế, bảng xếp hạng và điểm, có tác động tích cực đến sự thích thú cảm nhận và sự hài lòng, qua đó thúc đẩy ý định mua lại của người tiêu dùng Gen Z. Từ đó, bài viết góp phần làm rõ cơ chế tác động của trò chơi hóa đến ý định mua lại trong bối cảnh thương mại điện tử, đồng thời cung cấp các hàm ý thực tiễn cho các nền tảng thương mại điện tử trong việc thiết kế và triển khai chiến lược trò chơi hóa nhằm nâng cao sự hài lòng và ý định mua lại của khách hàng Gen Z.

Từ khóa: Gen Z, Thương mại điện tử, Trò chơi hóa, Việt Nam, Ý định mua lại

 

THE IMPACT OF GAMIFICATION ELEMENTS ON REPURCHASE INTENTION OF GENERATION Z IN VIETNAM ON E-COMMERCE PLATFORMS

 

Abstract: The study aims to analyze the impact of gamification factors on the repurchase intention of Generation Z consumers on e-commerce platforms in Vietnam. Data from 302 Generation Z consumers who had previously shopped on and experienced gamification features on e-commerce platforms in Vietnam were analyzed using a quantitative approach based on the Partial Least Squares Structural Equation Modeling (PLS-SEM), with SPSS and SmartPLS software. The results show that gamification factors, including badges, motivation, mechanisms, leaderboards, and points, have positive effects on perceived enjoyment and satisfaction, thereby enhancing the repurchase intention of Generation Z consumers. Accordingly, the study contributes to clarifying the mechanism through which gamification influences repurchase intention in the e-commerce context and provides practical implications for e-commerce platforms in designing and implementing gamification strategies to enhance customer satisfaction and repurchase intention among Generation Z consumers.

Keywords: E - commerce, Gamification, Gen Z, Repurchase intention, Vietnam

 

 

Nguyễn Duy Thành

Trường Quản trị và Kinh doanh, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, Việt Nam

 Ngày nhận: 30/10/2025; Ngày hoàn thành biên tập: 30/03/2026; Ngày duyệt đăng: 25/09/2026

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.102025.1416

Tóm tắt: Nghiên cứu nhằm đánh giá tác động của phong cách lãnh đạo giao dịch và phong cách lãnh đạo tự do đến hiệu quả hoạt động tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Dữ liệu từ 253 cán bộ quản lý trong các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam được phân tích bằng phương pháp ước lượng theo mô hình PLS-SEM. Kết quả cho thấy phong cách lãnh đạo giao dịch tác động tích cực tới hiệu quả tài chính và học hỏi phát triển. Tuy nhiên, phong cách lãnh đạo tự do chỉ tác động tích cực tới hiệu quả tài chính. Trong số các yếu tố của phong cách lãnh đạo giao dịch, chỉ có duy nhất phong cách ngoại lệ - chủ động tác động tích cực tới hiệu quả tài chính và học hỏi phát triển trong các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam. Từ đó, bài viết cung cấp cơ sở thực tiễn giúp các nhà quản trị xây dựng và điều chỉnh phong cách lãnh đạo phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng.

Từ khóa: Phong cách lãnh đạo tự do, Phong cách lãnh đạo giao dịch, Hiệu quả tài chính, Học hỏi và phát triển, Ngân hàng

THE IMPACT OF TRANSACTIONAL AND LAISSEZ-FAIRE LEADERSHIP ON THE PERFORMANCE OF VIETNAMESE JOINT-STOCK COMMERCIAL BANKS

Abstract: The study examines the impact of transactional leadership and laissez-faire leadership styles on the performance of joint-stock commercial banks in Vietnam. Data collected from 253 managers in these banks were analyzed using the PLS-SEM approach. The results indicate that transactional leadership has a positive effect on both financial performance and learning and growth, whereas laissez-faire leadership positively affects only financial performance. Among the dimensions of transactional leadership, only active management-by-exception demonstrates a positive impact on both financial performance and learning and growth in Vietnamese joint-stock commercial banks. Based on these findings, the study provides practical implications for managers in developing and adjusting appropriate leadership styles to enhance organizational performance in banks.

Keywords: Laissez-Faire Leadership Styles, Transactional Leadership Styles, Financial Performance, Growth And Development

 

 

Nguyễn Thị Bích Huệ

Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam

Trần Hồng Hà

Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam

Ngày nhận: 30/03/2026; Ngày hoàn thành biên tập: 14/08/2026; Ngày duyệt đăng: 30/09/2026

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.032026.1463

Tóm tắt: Nghiên cứu này phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự gắn kết của nhân viên trong các doanh nghiệp có vốn Nhật Bản đang hoạt động tại Việt Nam dựa trên khung lý thuyết Yêu cầu - Nguồn lực công việc (JD-R). Dữ liệu từ 474 nhân viên của 30 doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam được xử lý thông qua kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA) và hồi quy tuyến tính bội. Kết quả chỉ ra mối quan hệ giữa nhân viên với cấp trên và đồng nghiệp là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu ảnh hưởng đến sự gắn kết của nhân viên với doanh nghiệp đi kèm với đó là lương thưởng, đào tạo và phát triển, quyền tự chủ và nhận thức về vai trò. Trong khi đó, môi trường làm việc đóng vai trò như một “điều kiện tối thiểu” (hygiene factor) hơn là nguồn lực tạo sự khác biệt và không cho thấy tác động tới sự gắn kết của nhân viên. Những phát hiện này bổ sung bằng chứng định lượng về nhánh tạo động lực của mô hình JD-R trong bối cảnh doanh nghiệp FDI Nhật Bản tại một nền kinh tế đang phát triển. Từ đó, bài viết đề xuất một số hàm ý quản trị nhân sự phù hợp cho các doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.

Từ khoá: Doanh nghiệp Nhật Bản, Mô hình JD-R, Quản trị nhân lực quốc tế, Sự gắn kết của nhân viên, Việt Nam

FACTORS AFFECTING EMPLOYEE ENGAGEMENT IN JAPANESE COMPANIES IN VIETNAM

Abstract: This study examines the factors affecting employee engagement in Japanese-invested enterprises operating in Vietnam, based on the Job Demands-Resources (JD-R) framework. Data from 474 employees across 30 Japanese companies in Vietnam were analyzed using Cronbach's Alpha reliability tests, exploratory factor analysis (EFA), and multiple linear regression. The results indicate that relationships with supervisors and colleagues are among the most critical factors influencing employee engagement, alongside compensation and benefits, training and development, autonomy, and role perception. Meanwhile, the work environment functions more as a “hygiene factor” rather than a differentiating resource and does not show a significant impact on employee engagement. These findings provide quantitative evidence supporting the motivational pathway of the JD-R model in the context of Japanese FDI enterprises in a developing economy. Based on these findings, the study proposes appropriate human resource management implications for Japanese enterprises in Vietnam in the current context.

Keywords: Employee Engagement, International Human Resource Management, Japanese Enterprises, JD-R Model, Vietnam

 

 

Phạm Thành Thái

Trường Đại học Nha Trang, Khánh Hòa, Việt Nam

Phạm Thị Hồng Lệ

Trường Đại học Nha Trang, Khánh Hòa, Việt Nam

Ngày nhận: 26/09/2025; Ngày hoàn thành biên tập: 17/06/2026; Ngày duyệt đăng: 28/09/2026

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.092025.1355

Tóm tắt: Nghiên cứu nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn của người dân tại thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa, dựa trên lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB). Dữ liệu từ 300 người dân được phân tích bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện thông qua mô hình PLS-SEM. Kết quả cho thấy các nhân tố thái độ, chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi và công tác tuyên truyền có ảnh hưởng tích cực đến ý định phân loại rác. Nhận thức về sự hiệu quả cũng có tác động cùng chiều đến ý định, tuy nhiên mối quan hệ này chỉ đạt ý nghĩa thống kê ở mức 10%. Trong các yếu tố được xem xét, công tác tuyên truyền có ảnh hưởng mạnh nhất. Ngược lại, quy định của Chính phủ không ảnh hưởng đến ý định hành vi. Nghiên cứu cũng khẳng định, ý định hành vi là tiền đề quan trọng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành vi phân loại rác. Từ đó, bài viết đóng góp cả về lý thuyết và thực tiễn khi củng cố tính ứng dụng của TPB trong bối cảnh đô thị Việt Nam, đồng thời đưa ra các hàm ý chính sách thiết thực nhằm thúc đẩy hành vi phân loại rác tại nguồn, góp phần vào mục tiêu phát triển bền vững của địa phương.

Từ khóa: Lý thuyết hành vi có kế hoạch, Hành vi phân loại rác, Công tác tuyên truyền

FACTORS INFLUENCING HOUSEHOLD SOLID WASTE SOURCE SEPARATION BEHAVIOR OF RESIDENTS IN CAM RANH CITY, KHANH HOA PROVINCE

Abstract: This study aims to identify the factors influencing household solid waste source separation behavior among residents in Cam Ranh City, Khanh Hoa Province, based on the Theory of Planned Behavior (TPB). Survey data were collected from 300 individuals using a convenience sampling method. The results indicate that attitude, subjective norms, perceived behavioral control, and communication activities have positive effects on residents’ intention to sort waste at the source. Perceived effectiveness also shows a positive relationship with intention; however, this relationship is only statistically significant at the 10% level. Among the factors examined, communication activities exert the strongest influence on waste-sorting intention. Conversely, government regulations show no significant effect on behavioral intention. The study also confirms that behavioral intention is a crucial antecedent that significantly influences waste sorting behavior. Accordingly, the study contributes both theoretically and practically by reinforcing the applicability of TPB in the Vietnamese urban context, while also providing practical policy implications to promote source separation behavior and support the local sustainable development agenda.

Keywords: Theory of Planned Behavior, Household Waste Source Separation, Communication and Awareness Campaigns

 

 

Bùi Phương Linh

Trường Đại học Thương mại, Hà Nội, Việt Nam

Nguyễn Viết Thái

Trường Đại học Thương mại, Hà Nội, Việt Nam

Ngày nhận: 19/12/2025; Ngày hoàn thành biên tập: 07/07/2026; Ngày duyệt đăng: 28/09/2026

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.122025.1434

Tóm tắt: Nghiên cứu nhằm kiểm định ảnh hưởng của truyền miệng điện tử đến hành vi mua trực tuyến dịch vụ lưu trú qua các đại lý du lịch trực tuyến. Dữ liệu từ 395 khách du lịch Việt Nam được phân tích bằng mô hình phương trình cấu trúc bình phương tối thiểu riêng phần PLS-SEM. Kết quả cho thấy truyền miệng điện tử thúc đẩy ý định mua thông qua niềm tin và thái độ, trong đó niềm tin là yếu tố dự báo mạnh hơn. Ý định đóng vai trò trung gian giữa niềm tin, thái độ và hành vi, còn điều kiện thuận lợi điều tiết mối quan hệ giữa ý định và hành vi thực tế. Nghiên cứu đề xuất hàm ý quản trị đối với hoạt động truyền thông marketing và hỗ trợ giao dịch trực tuyến.

Từ khóa: Truyền miệng điện tử (eWOM), Dịch vụ lưu trú, Điều kiện thuận lợi, Đại lý du lịch trực tuyến, Hành vi mua

THE IMPACT OF ELECTRONIC WORD-OF-MOUTH ON ACCOMMODATION PURCHASE BEHAVIOR: THE ROLE OF FACILITATING CONDITIONS

Abstract: This study examines the impact of electronic word-of-mouth (eWOM) on customers' online purchasing behavior for accommodation services through online travel agencies (OTAs). Data collected from 395 Vietnamese tourists were analyzed using Partial Least Squares Structural Equation Modeling (PLS-SEM). The results indicate that eWOM enhances purchase intention through the mediating roles of trust and attitude, with trust emerging as a stronger predictor of purchase intention than attitude. Purchase intention further mediates the relationship between trust, attitude, and actual purchasing behavior, while facilitating conditions moderate the relationship between purchase intention and actual purchasing behavior. Based on these findings, the study offers managerial implications for marketing communication strategies and the enhancement of facilitating conditions to support online transactions.

Keywords: Accommodation Services, Electronic Word-of-Mouth (eWOM), Facilitating Conditions, Online Travel Agencies (OTAs), Purchase Behavior

 

Nguyễn Tấn Hiệp

Trường Kinh doanh Greater Manchester, Đại học Greater Manchester, Vương quốc Anh

Nguyễn Thái Dung

Trường Đại học Văn Hiến, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam

Dương Thế Duy

Trường Đại học Ngoại ngữ - Tin học Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam

Ngày nhận: 01/12/2025; Ngày hoàn thành biên tập: 06/04/2026; Ngày duyệt đăng: 25/09/2026

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.122025.1425

Tóm tắt: Nghiên cứu phân tích tác động của áp lực thuế cảm nhận đến hiệu quả thương mại điện tử xuyên biên giới (CBEC) của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngành thực phẩm tại Việt Nam. Dữ liệu từ 312 doanh nghiệp và phân tích bằng mô hình phương trình cấu trúc PLS-SEM. Kết quả cho thấy áp lực thuế cảm nhận có tác động tiêu cực đáng kể đến cả hiệu suất chiến lược và hiệu suất tài chính của doanh nghiệp trong hoạt động CBEC. Bên cạnh đó, các năng lực nội tại, bao gồm năng lực tiếp thị quốc tế và năng lực vận hành xuất khẩu, không tạo ra tác động tích cực như kỳ vọng; trong đó, năng lực vận hành xuất khẩu thậm chí có tác động tiêu cực đến hiệu suất tài chính. Kết quả cũng xác nhận hiệu suất chiến lược là tiền đề quan trọng dẫn đến cải thiện hiệu suất tài chính. Ngoài ra, thuế suất tại thị trường xuất khẩu được xác định đóng vai trò điều tiết có chọn lọc, làm thay đổi mức độ tác động của áp lực thuế và năng lực vận hành xuất khẩu đến hiệu suất tài chính. Trên cơ sở đó, bài viết góp phần làm rõ vai trò của áp lực thuế trong bối cảnh thể chế của CBEC và đưa ra các hàm ý chính sách nhằm giảm gánh nặng thuế và nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Từ khóa: Áp lực thuế, Doanh nghiệp vừa và nhỏ, Hiệu suất tài chính, Hiệu suất chiến lược, Thương mại điện tử xuyên biên giới

TAX PRESSURE, INTERNAL CAPABILITIES, AND CROSS-BORDER E-COMMERCE PERFORMANCE

Abstract: The study examines the impact of perceived tax pressure on the cross-border e-commerce (CBEC) performance of small and medium-sized enterprises (SMEs) in the food sector in Vietnam. Data collected from 312 firms are analyzed using the PLS-SEM approach. The results indicate that perceived tax pressure has a significant negative effect on both strategic performance and financial performance in CBEC activities. In addition, internal capabilities, including international marketing capability and export operational capability, do not generate the expected positive effects; notably, export operational capability even exerts a negative impact on financial performance. The findings also confirm that strategic performance serves as a key antecedent to improvements in financial performance. Furthermore, tax rates in export markets are identified as a selective moderating factor, altering the strength of the effects of perceived tax pressure and export operational capability on financial performance. Based on these findings, the study contributes to clarifying the role of tax pressure within the institutional context of CBEC and offers policy implications aimed at reducing tax burdens and enhancing the competitiveness of SMEs.

Keywords: Cross-Border E-Commerce, Financial Performance, Perceived Tax Pressure, Small and Medium-Sized Enterprises, Strategic Performance

 

[1] Tác giả liên hệ, Email: Địa chỉ email này đang được bảo vệ từ spam bots. Bạn cần bật JavaScript để xem nó.