Sidebar

Magazine menu

12
T3, 05

Phạm Quốc Khánh 

Trường Đại học Công đoàn, Hà Nội, Việt Nam

Lê Quang Minh

Trường Đại học Công đoàn, Hà Nội, Việt Nam

Ngày nhận: 21/12/2024; Ngày hoàn thành biên tập: 06/04/2026; Ngày duyệt đăng: 20/04/2026

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.122024.1221

Tóm tắt: Nghiên cứu nhằm xem xét tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và động lực lực lượng lao động đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Dữ liệu giai đoạn 1985-2023 được phân tích bằng mô hình tự hồi quy phân phối trễ (ARDL) nhằm đánh giá cả mối quan hệ ngắn hạn và dài hạn giữa FDI, lực lượng lao động và tăng trưởng GDP. Kết quả cho thấy FDI có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế, với hệ số ngắn hạn đạt 0,077 và hệ số dài hạn đạt 0,258, phản ánh hiệu ứng tích lũy thông qua chuyển giao công nghệ và cải thiện năng suất. Lực lượng lao động có ảnh hưởng mạnh hơn, với hệ số dài hạn đạt 4,878, qua đó khẳng định vai trò quan trọng của yếu tố này trong thúc đẩy tăng trưởng GDP. Bên cạnh đó, mô hình hiệu chỉnh sai số (ECM) cho thấy sự tồn tại của trạng thái cân bằng dài hạn ổn định, với tốc độ điều chỉnh đạt 29,93% mỗi năm, hàm ý khả năng điều chỉnh và phục hồi của nền kinh tế trước các cú sốc. Trên cơ sở đó, nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách, nhấn mạnh sự cần thiết của việc thu hút FDI một cách có chọn lọc, nâng cao năng suất lao động và tăng cường liên kết giữa khu vực FDI và khu vực trong nước nhằm duy trì tăng trưởng kinh tế bền vững.

Từ khóa: ARDL Model, FDI, Lực lượng lao động, Tăng trưởng kinh tế

THE IMPACT OF LABOR FORCE AND FOREIGN DIRECT INVESTMENT (FDI) ON ECONOMIC GROWTH IN VIETNAM: EVIDENCE FROM THE ARDL MODEL

 

Abstract: The study aims to examine the impact of foreign direct investment (FDI) and labor force dynamics on Vietnam’s economic growth. Time-series data for the period 1985-2023 are analyzed using the autoregressive distributed lag (ARDL) model to assess both short-run and long-run relationships among FDI, labor force, and GDP growth. The results indicate that FDI has a positive effect on economic growth, with a short-run coefficient of 0.077 and a long-run coefficient of 0.258, reflecting cumulative effects through technology transfer and productivity improvement. The labor force exhibits a stronger influence, with a long-run coefficient of 4.878, underscoring its critical role in driving GDP growth. In addition, the error correction model (ECM) confirms the existence of a stable long-run equilibrium, with an adjustment speed of 29.93% per year, implying the economy’s capacity to adjust and recover from shocks. Based on these findings, the study provides important empirical evidence for policymakers, highlighting the need to attract FDI strategically, enhance labor productivity, and strengthen linkages between the FDI sector and the domestic sector to sustain economic growth.

Keywords: ARDL Model, Economic Growth, FDI, Labor Force

Nguyễn Thị Hải Yến

Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam

Hoàng Thị Diện

Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam

Nguyễn Thu Hiền

Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam

Ngày nhận: 15/10/2025; Ngày hoàn thành biên tập: 10/04/2026; Ngày duyệt đăng: 24/04/2026

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.102025.1404

Tóm tắt: Nghiên cứu nhằm phân tích tác động của chuyển đổi số đến lực lượng sản xuất chất lượng mới tại 12 quốc gia Đông Á và Thái Bình Dương. Dữ liệu bảng giai đoạn 2010-2022 được phân tích bằng các mô hình POLS, FEM và REM, đồng thời thực hiện các kiểm định cần thiết và khắc phục các khuyết tật của mô hình bằng phương pháp FGLS. Kết quả chỉ ra chuyển đổi số có tác động tích cực đến lực lượng sản xuất chất lượng mới. Phân tích vai trò của các biến điều tiết cho thấy thu nhập có vai trò điều tiết tích cực, trong khi vai trò điều tiết của hoạt động đào tạo chưa có ý nghĩa thống kê. Phân tích so sánh giữa hai nhóm quốc gia cho thấy tác động của chuyển đổi số, cũng như vai trò điều tiết của thu nhập, đều mạnh hơn ở nhóm quốc gia phát triển. Trên cơ sở đó, bài viết cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho việc xây dựng chính sách chuyển đổi số gắn với nâng cao thu nhập, phát triển kỹ năng số và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nhóm quốc gia. 

Từ khoá: Chuyển đổi số, Lực lượng sản xuất chất lượng mới, Quốc gia Đông Á và Thái Bình Dương

THE IMPACT OF DIGITAL TRANSFORMATION ON NEW QUALITY PRODUCTIVE FORCES IN SELECTED EAST ASIA AND PACIFIC COUNTRIES

Abstract: The study aims to examine the impact of digital transformation on new-quality productive forces across 12 East Asia and Pacific countries. Panel data for the period 2010-2022 are analyzed using POLS, FEM, and REM models, along with necessary diagnostic tests, while model deficiencies are addressed using the FGLS method. The results indicate that digital transformation exerts a positive effect on new-quality productive forces. The analysis of moderating variables shows that income plays a positive moderating role, whereas the moderating effect of training activities is not statistically significant. A comparative analysis between two groups of countries reveals that the impact of digital transformation, as well as the moderating role of income, is stronger in the group of developed countries. Based on these findings, the study provides empirical evidence to inform policies that link digital transformation with income enhancement, digital skills development, and the narrowing of development gaps among country groups.

Keywords: Digital Transformation, New Quality Productive Forces, East Asia and Pacific Countries

Phạm Huy Hùng

Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường, Hà Nội, Việt Nam

Thanh Kim Huệ

Học viện Ngân hàng phân viện Bắc Ninh, Bắc Ninh, Việt Nam

Nguyễn Thị Phương Mai

Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam

Trần Mạnh Dũng

Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội, Việt Nam

Ngày nhận: 01/10/2025; Ngày hoàn thành biên tập: 09/04/2026; Ngày duyệt đăng: 22/04/2026

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.102025.1372

Tóm tắt: Nghiên cứu này kiểm định tác động của việc chuyển đổi công ty kiểm toán sang nhóm Big4 đối với sự thay đổi trong hiệu quả tài chính, đồng thời xem xét vai trò điều tiết của công bố thông tin ESG trong mối quan hệ này tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Dữ liệu bảng từ 336 công ty phi tài chính trong giai đoạn 2015-2024 được phân tích bằng phương pháp ghép cặp theo điểm xu hướng (PSM) kết hợp với mô hình hiệu ứng cố định. Kết quả cho thấy việc chuyển đổi sang Big4 có tác động tích cực đến việc cải thiện hiệu quả tài chính; đồng thời, tác động này được tăng cường ở những doanh nghiệp có mức độ công bố thông tin ESG cao, với hiệu ứng nổi bật nhất từ các trụ cột quản trị và môi trường. Trên cơ sở đó, bài viết cung cấp bằng chứng thực nghiệm về cơ chế xác thực tín hiệu, qua đó chỉ ra rằng tín hiệu “cứng” từ kiểm toán chất lượng cao có thể xác thực và gia tăng giá trị cho tín hiệu “mềm” từ công bố thông tin ESG.

Từ khóa: BIG4, Công bố thông tin ESG, Chất lượng kiểm toán, Hiệu quả tài chính

IMPACT OF AUDITOR SWITCHING TO BIG4 ON FINANCIAL PERFORMANCE: THE MODERATING ROLE OF ESG DISCLOSURE

Abstract: This study examines the impact of switching audit firms to the Big4 on changes in financial performance, while also investigating the moderating role of ESG disclosure in this relationship among listed firms in the Vietnamese stock market. Panel data from 336 non-financial companies over the period 2015-2024 are analyzed using propensity score matching (PSM) combined with a fixed-effects model. The results indicate that switching to Big4 auditors has a positive effect on improving financial performance. Moreover, this effect is strengthened for firms with higher levels of ESG disclosure, with the strongest influence stemming from the governance and environmental pillars. Based on these findings, the study provides empirical evidence supporting the signaling verification mechanism, demonstrating that “hard” signals from high-quality auditing can validate and enhance the value of “soft” signals derived from ESG disclosure.

Keywords: BIG4, ESG Disclosure, Audit Quality, Financial Performance 

Trần Thị Hoàng Hà

Trường Đại học Thương mại, Hà Nội, Việt Nam

Nguyễn Hoàng Việt 

Trường Đại học Thương mại, Hà Nội, Việt Nam

Vũ Tuấn Dương 

Trường Đại học Thương mại, Hà Nội, Việt Nam

Ngày nhận: 05/03/2026; Ngày hoàn thành biên tập: 22/04/2026; Ngày duyệt đăng: 28/04/2026

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.032026.1462

Tóm tắt: Nghiên cứu này nhằm đánh giá tác động của các thực hành ESG đến sự gắn kết tổ chức của nhân viên tại các ngân hàng thương mại. Dữ liệu từ 322 nhân viên ngân hàng được phân tích bằng phương pháp PLS-SEM trên nền tảng lý thuyết bản sắc xã hội. Kết quả cho thấy các thực hành ESG có tác động tích cực đến sự gắn kết tổ chức của nhân viên. Đáng chú ý, chánh niệm được xác nhận đóng vai trò trung gian, góp phần tăng cường ảnh hưởng của các thực hành ESG thuộc khía cạnh quản trị và xã hội đến sự gắn kết tổ chức. Tuy nhiên, vai trò trung gian này không được tìm thấy trong mối quan hệ giữa thực hành ESG môi trường và sự gắn kết tổ chức của nhân viên. Những phát hiện này góp phần bổ sung cơ sở lý thuyết cho các nghiên cứu về thực hành ESG trong doanh nghiệp, đồng thời cung cấp các hàm ý quản trị quan trọng cho các ngân hàng trong việc nâng cao hiệu quả triển khai ESG nhằm tăng cường sự gắn kết của nhân viên.

Từ khoá: ESG, Sự gắn kết của nhân viên, Chánh niệm, Ngân hàng thương mại, Phát triển bền vững

THE IMPACT OF ESG PRACTICES ON EMPLOYEE ORGANIZATIONAL ENGAGEMENT IN COMMERCIAL BANKS: THE MEDIATING ROLE OF MINDFULNESS

Abstract:  This study aims to examine the impact of ESG practices on employees’ organizational commitment in commercial banks. Data collected from 322 bank employees were analyzed using the PLS-SEM method, grounded in social identity theory. The results indicate that ESG practices have a positive effect on employees’ organizational commitment. Notably, mindfulness is confirmed to play a mediating role, enhancing the impact of governance and social ESG practices on organizational commitment. However, this mediating role is not found in the relationship between environmental ESG practices and employees’ organizational commitment. These findings contribute to enriching the theoretical foundation of ESG research in the business context, while also providing important managerial implications for banks in improving the effectiveness of ESG implementation to strengthen employee commitment.

Keywords: ESG, Employee Engagement, Mindfulness, Commercial Banks, Sustainable Development

Quách Thị Hà

Trường Đại học Hàng hải Việt Nam, Hải Phòng, Việt Nam

Ngày nhận: 18/11/2025; Ngày hoàn thành biên tập: 10/04/2026; Ngày duyệt đăng: 23/04/2026

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.112025.1421

Tóm tắt: Nghiên cứu phân tích tác động của nguồn nhân lực thuyền viên đến năng suất lao động trong doanh nghiệp vận tải biển, với vai trò trung gian của hiệu quả vận hành gắn với an toàn hàng hải. Dữ liệu từ 240 thuyền viên được phân tích bằng mô hình cấu trúc tuyến tính bình phương bé nhất từng phần (PLS-SEM). Kết quả cho thấy các nhân tố như năng lực, động lực và cơ hội phát triển nghề nghiệp đều có ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa thống kê đến hiệu quả vận hành, qua đó gián tiếp nâng cao năng suất lao động. Bên cạnh đó, các đặc điểm cá nhân như bằng cấp, kinh nghiệm và chức danh công việc góp phần củng cố mối quan hệ này. Trên cơ sở đó, bài viết khẳng định vai trò trung gian của hiệu quả vận hành trong việc chuyển hóa các nhân tố nguồn nhân lực thành kết quả hoạt động, đồng thời cung cấp hàm ý quản trị nhằm nâng cao năng suất lao động trong ngành vận tải biển Việt Nam.

Từ khóa: Các nhân tố nguồn nhân lực của thuyền viên, Doanh nghiệp vận tải biển, Hiệu quả vận hành gắn với bảo đảm an toàn hàng hải, Năng suất lao động, Việt Nam

 

THE IMPACT OF SEAFARERS’ HUMAN RESOURCES ON LABOR PRODUCTIVITY IN VIETNAM’S MARITIME TRANSPORT INDUSTRY

Abstract: This study examines the impact of seafarers’ human resource factors on labor productivity in maritime transport enterprises, with a particular focus on the mediating role of operational efficiency associated with maritime safety assurance. Data collected from 240 seafarers were analyzed using the Partial Least Squares Structural Equation Modeling (PLS-SEM) approach. The results indicate that key factors, including competence, motivation, and career development opportunities, have positive and statistically significant effects on operational efficiency, thereby indirectly enhancing labor productivity. In addition, individual characteristics such as educational attainment, work experience, and job position further reinforce these relationships. The findings highlight the mediating role of operational efficiency in transforming human resource factors into performance outcomes and provide managerial implications for improving labor productivity in Vietnam’s maritime transport industry.

Keywords: Labor productivity, Maritime Transport Enterprises, Operational Efficiency Associated with Maritime Safety Assurance, Seafarers’ Human Resource Factors, Vietnam

Trần Thị Phương Thảo

Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam

Ngày nhận: 24/12/2025; Ngày hoàn thành biên tập: 26/03/2026; Ngày duyệt đăng: 22/04/2026

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.122025.1435

Tóm tắt: Nghiên cứu phân tích ảnh hưởng của đặc điểm Hội đồng quản trị và cơ cấu sở hữu đến việc áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại các công ty niêm yết Việt Nam. Dữ liệu từ 3.295 quan sát của doanh nghiệp niêm yết giai đoạn 2019-2023 được phân tích bằng phương pháp hồi quy logistic hiệu ứng ngẫu nhiên (Random-effects logit) và phương pháp ước lượng tổng quát GEE. Kết quả cho thấy quy mô Hội đồng quản trị, hoạt động của Ủy ban kiểm toán và tỷ lệ sở hữu nước ngoài có tác động tích cực đến việc áp dụng IFRS tại các doanh nghiệp. Đặc biệt, tác động của đặc điểm Hội đồng quản trị và sở hữu nước ngoài trở nên mạnh hơn đáng kể trong giai đoạn áp dụng tự nguyện theo lộ trình áp dụng IFRS tại Quyết định 345/QĐ-BTC. Bên cạnh đó, sở hữu Nhà nước chỉ cho thấy tác động có ý nghĩa thống kê trong giai đoạn chính sách IFRS được xác lập rõ ràng. Từ đó, bài viết cung cấp bằng chứng mới cho thị trường mới nổi như Việt Nam, đồng thời nhấn mạnh vai trò trung tâm của Nhà nước trong thiết kế lộ trình IFRS và điều tiết hành vi tuân thủ của doanh nghiệp.

Từ khóa: Áp dụng IFRS, Cơ cấu sở hữu, Hội đồng quản trị, Lý thuyết thể chế

THE IMPACT OF BOARD CHARACTERISTICS AND OWNERSHIP STRUCTURE ON THE ADOPTION OF INTERNATIONAL FINANCIAL REPORTING STANDARDS (IFRS) IN VIETNAMESE LISTED COMPANIES

Abstract: This study analyzes the impact of Board characteristics and ownership structure on the adoption of International Financial Reporting Standards (IFRS) among Vietnamese listed companies. Data from 3,295 firm-year observations over the period 2019-2023 are examined using a random-effects logistic regression (random-effects logit) model and the Generalized Estimating Equations (GEE) approach. The results indicate that board size, audit committee activity, and the proportion of foreign ownership have positive effects on IFRS adoption. Notably, the influence of Board characteristics and foreign ownership became significantly stronger during the voluntary adoption phase under the IFRS adoption roadmap outlined in Decision 345/QĐ-BTC. Additionally, state ownership shows a statistically significant effect only in the period when the IFRS policy framework is clearly established. Overall, the research provides new evidence for emerging markets like Vietnam and highlights the central role of the government in designing the IFRS roadmap and regulating corporate compliance behavior.

Keywords: IFRS Adoption, Ownership Structure, Board of Directors, Institutional Theory

 

Hòa Thị Tươi

Trường Đại học Thương mại, Hà Nội, Việt Nam

Phạm Thị Tuyết Nhung

Trường Đại học Thương mại, Hà Nội, Việt Nam

Nguyễn Thị Hồng Nhung

Trường Đại học Thương mại, Hà Nội, Việt Nam

Trần Thị Ngà

Trường Đại học Thương mại, Hà Nội, Việt Nam

Trần Thị Tâm

Trường Đại học Thương mại, Hà Nội, Việt Nam

Phạm Thu Thảo

Trường Đại học Thương mại, Hà Nội, Việt Nam

Ngày nhận: 07/03/2025; Ngày hoàn thành biên tập: 16/09/2025; Ngày duyệt đăng: 20/04/2026

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.032025.1260

Tóm tắt: Nghiên cứu tìm hiểu ảnh hưởng của truyền thông nội bộ cấp quản lý trực tiếp đến hành vi ủng hộ doanh nghiệp của nhân viên, đồng thời xem xét vai trò trung gian của mối quan hệ giữa nhân viên - tổ chức. Dữ liệu từ 270 nhân viên làm việc trong các doanh nghiệp công nghệ thông tin tại Hà Nội được phân tích bằng phương pháp PLS - SEM trên phần mềm SmartPLS. Kết quả cho thấy chất lượng của truyền thông nội bộ và truyền thông nội bộ hai chiều cấp quản lý trực tiếp có ảnh hưởng tích cực đến hành vi ủng hộ doanh nghiệp của nhân viên, trong khi tần suất của truyền thông nội bộ cấp quản lý trực tiếp không có ảnh hưởng. Đồng thời, cả ba khía cạnh của truyền thông nội bộ cấp quản lý trực tiếp đều ảnh hưởng tích cực đến mối quan hệ giữa nhân viên - tổ chức. Nghiên cứu cũng chỉ ra mối quan hệ giữa nhân viên - tổ chức đóng vai trò trung gian cho truyền thông nội bộ cấp quản lý trực tiếp và hành vi ủng hộ doanh nghiệp của nhân viên. Từ đó, bài viết đưa ra một số hàm ý đối với hoạt động truyền thông nội bộ cấp quản lý trực tiếp để thúc đẩy mối quan hệ tốt đẹp giữa nhân viên - tổ chức và hành vi ủng hộ doanh nghiệp của nhân viên.

Từ khoá: Truyền thông nội bộ cấp quản lý trực tiếp, Hành vi ủng hộ doanh nghiệp, Mối quan hệ giữa nhân viên - tổ chức, Công nghệ thông tin

THE IMPACT OF INTERNAL LINE MANAGER COMMUNICATION AND EMPLOYEE ADVOCACY IN INFORMATION TECHNOLOGY ENTERPRISES IN HANOI 

Abstracts: This study investigates the influence of line manager - level internal communication on employee advocacy behaviors, while examining the mediating role of the employee – organization relationship. Data were collected from 270 employees working in information technology enterprises in Hanoi and analyzed using the PLS-SEM method with SmartPLS software. The findings indicate that both the quality of internal communication and the bidirectional internal communication at the line manager level positively affect employees advocacy behaviors, whereas the frequency of such communication shows no significant effect. Furthermore, all three dimensions of line manager - level internal communication positively influence the employee – organization relationship. The study also reveals that the employee – organization relationship serves as a mediator between line manager - level internal communication and employee advocacy behaviors. Based on these findings, the paper provides several implications for enhancing supervisor-level internal communication practices to foster stronger employee – organization relationships and promote supportive employee behaviors.

Keywords: Employee Advocacy, Employee - Organization Relationship, Information Technology, Internal Line Manager Communication

Các bài khác...