Sidebar

Magazine menu

30
T6, 01

Vũ Thị Thúy Hằng

Trường Đại học Thương mại, Hà Nội, Việt Nam

Nguyễn Thị Thúy Ngân

Trường Đại học Thương mại, Hà Nội, Việt Nam

Lê Thị Huyền Trang

Trường Đại học Thương mại, Hà Nội, Việt Nam

 

Ngày nhận: 24/03/2025; Ngày hoàn thành biên tập: 13/08/2025; Ngày duyệt đăng: 09/01/2026

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.032025.1271

  

Tóm tắt: Nghiên cứu phân tích tác động của trách nhiệm xã hội của các nhà bán lẻ trực tuyến đến sự sẵn sàng chi trả của người tiêu dùng Việt Nam. Dữ liệu từ 751 đáp viên đã từng mua sản phẩm hoặc dịch vụ thông qua trang web của các nhà bán lẻ trực tuyến hoặc các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam được phân tích bằng mô hình Kích thích - Chủ thể - Phản ứng (SOR). Kết quả cho thấy trách nhiệm xã hội không tác động trực tiếp mà ảnh hưởng gián tiếp đến sự sẵn sàng chi trả thông qua hình ảnh doanh nghiệp và sự hài lòng của khách hàng. Nhận thức về đạo đức giả tuy không đóng vai trò trung gian nhưng có ảnh hưởng tiêu cực đáng kể đến sự sẵn sàng chi trả. Thêm vào đó, nghiên cứu còn mở rộng việc ứng dụng mô hình SOR vào bối cảnh thương mại điện tử tại thị trường mới nổi, đồng thời làm rõ vai trò của nhận thức thương hiệu và cảm xúc khách hàng trong mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội và sự sẵn sàng chi trả. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm hỗ trợ các nhà bán lẻ trực tuyến xây dựng chiến lược trách nhiệm xã hội minh bạch, phù hợp với kỳ vọng của khách hàng, qua đó nâng cao hình ảnh thương hiệu và giá trị chi trả.

 

Từ khóa: Trách nhiệm xã hội, Nhà bán lẻ trực tuyến, Sự sẵn sàng chi trả, Người tiêu dùng Việt Nam

THE IMPACT OF SOCIAL RESPONSIBILITY IN ONLINE RETAILING ON VIETNAMESE CONSUMERS’ WILLINGNESS TO PAY

Abstract: This study examines the impact of corporate social responsibility (CSR) practices of online retailers on Vietnamese consumers’ willingness to pay. Survey data from 751 respondents who had previously purchased products or services via the websites of online retailers or e-commerce platforms operating in Vietnam were analyzed using the Stimulus–Organism–Response (SOR) model. The findings reveal THAT CSR does not exert a direct effect but indirectly influences willingness to pay through corporate image and customer satisfaction. While perceived hypocrisy does not serve as a mediating variable, it has a significant negative effect on willingness to pay. Furthermore, the study extends the application of the SOR model to the e-commerce context in an emerging market, clarifying the roles of brand perception and customer emotions in the relationship between CSR and willingness to pay. Based on these findings, the paper offers several managerial implications to support online retailers in developing transparent CSR strategies aligned with customer expectations, thereby enhancing brand image and perceived value.

Keywords: Corporate Social Responsibility, E-Tailers, Willingness to Pay, Vietnamese Consumers

Nguyễn Thị Phương Dung

Trường Kinh tế - Trường Đại học Cần Thơ, TP. Cần Thơ, Việt Nam

Lê Kim Duy

Trường Kinh tế - Trường Đại học Cần Thơ, TP. Cần Thơ, Việt Nam

Nguyễn Trọng Tính

Trường Cao đẳng FPT Polytechnic Cần Thơ, TP. Cần Thơ, Việt Nam

 

Ngày nhận: 04/04/2025; Ngày hoàn thành biên tập: 09/10/2025; Ngày duyệt đăng: 08/01/2026

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.042025.1275

Tóm tắt: Nghiên cứu cung cấp cái nhìn sâu sắc về tác động của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR) đến niềm tự hào tổ chức và sự gắn kết của nhân viên trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Cần Thơ. Dữ liệu từ 230 nhân viên đang làm việc trong SMEs có triển khai hoạt động CSR được xử lý bằng phương pháp kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích nhân tố khẳng định (CFA) và mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM). Kết quả cho thấy trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm từ thiện và trách nhiệm đối với nhân viên có ảnh hưởng tích cực đến niềm tự hào tổ chức, từ đó nâng cao mức độ gắn kết của nhân viên với doanh nghiệp. Ngược lại, trách nhiệm kinh tế và trách nhiệm đạo đức không tạo ra tác động đáng kể đến niềm tự hào cũng như sự gắn kết trong bối cảnh nghiên cứu. Từ đó, bài viết nhấn mạnh vai trò quan trọng của CSR trong việc củng cố sự gắn kết của nhân viên thông qua cơ chế trung gian là niềm tự hào tổ chức, đồng thời đưa ra hàm ý quản trị nhằm hỗ trợ SMEs xây dựng chiến lược CSR hiệu quả để tối ưu hóa nguồn nhân lực trong tương lai.

Từ khóa: Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, Niềm tự hào, Sự gắn kết nhân viên, Doanh nghiệp vừa và nhỏ, Cần Thơ

THE IMPACT OF CORPORATE SOCIAL RESPONSIBILITY ON EMPLOYEE ENGAGEMENT: THE MEDIATING ROLE OF ORGANIZATIONAL PRIDE IN SMALL AND MEDIUM-SIZED ENTERPRISES IN CAN THO

Abstract: This study provides an in-depth insight into the impact of corporate social responsibility (CSR) on organizational pride and employee engagement in small and medium-sized enterprises (SMEs) in Can Tho. Data collected from 230 employees working in SMEs implementing CSR activities were analyzed using reliability testing through Cronbach’s Alpha, exploratory factor analysis (EFA), confirmatory factor analysis (CFA), and structural equation modeling (SEM). The results reveal that legal responsibility, philanthropic responsibility, and responsibility toward employees have a positive influence on organizational pride, thereby enhancing employees’ engagement with their enterprises. In contrast, economic and ethical responsibilities do not exert a significant impact on organizational pride or employee engagement within the research context. Accordingly, the study emphasizes the critical role of CSR in strengthening employee engagement through the mediating mechanism of organizational pride and proposes managerial implications to help SMEs develop effective CSR strategies for optimizing human resources in the future.

Keywords: Corporate Social Responsibility, Employee Engagement, Employee Pride, Small and Medium-Sized Enterprises, Can Tho

Hồ Xuân Thủy

Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam

Nguyễn Khánh Huyền

Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam

Nguyễn Thị Thùy Nhung

Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam

Trần Ngọc Ánh Tâm

Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam

Lê Phú Thành

Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam

Hồ Thị Thảo Trúc

Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam

Ngày nhận: 26/08/2025; Ngày hoàn thành biên tập: 24/11/2025; Ngày duyệt đăng: 15/01/2026

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.082025.1333

 

Tóm tắt: Nghiên cứu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của báo cáo tài chính tại các công ty niêm yết Việt Nam. Dữ liệu từ 599 công ty giai đoạn 2018-2022 được phân tích bằng mô hình FGLS nhằm khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan, đồng thời IV-2SLS và GMM sử dụng để kiểm định độ tin cậy và xử lý khả năng nội sinh. Kết quả cho thấy loại báo cáo tài chính, chất lượng kiểm toán kéo dài thời gian công bố báo cáo tài chính, trong khi công ty có tuổi đời lâu hơn thường công bố sớm hơn. Tác động của quy mô, đòn bẩy tài chính và hiệu quả sinh lời chỉ xuất hiện trong mô hình tĩnh và không còn ý nghĩa khi xem xét vấn đề nội sinh. Các phát hiện này phù hợp với lý thuyết tín hiệu, đường cong học tập và thông tin bất cân xứng, đồng thời bổ sung bằng chứng thực nghiệm về chất lượng báo cáo tài chính. Từ đó, bài viết đưa ra hàm ý quản trị giúp cơ quan quản lý tăng cường giám sát và rút ngắn thời hạn công bố, đồng thời hỗ trợ kiểm toán viên và nhà đầu tư trong việc đánh giá, ra quyết định hiệu quả hơn.

Từ khóa: Báo cáo tài chính, Công ty niêm yết, Mô hình FGLS, Tính kịp thời

DETERMINANTS OF FINANCIAL REPORTING TIMELINESS: EVIDENCE FROM LISTED COMPANIES IN VIETNAM

Abstract: This study examines the factors influencing the timeliness of financial reports among listed companies in Vietnam. Data from 599 firms over the period 20182022 were analyzed using the Feasible Generalized Least Squares (FGLS) model to address heteroskedasticity and autocorrelation issues, while the IV-2SLS and two-step GMM models were employed to test the robustness of results and control for potential endogeneity. The findings reveal that the type of financial statements and audit quality tend to prolong the reporting lag, whereas firms with longer operating histories tend to disclose their financial reports more promptly. The effects of firm size, financial leverage, and profitability appear only in the static model but become insignificant once endogeneity is controlled for. These results are consistent with signaling theory, the learning curve, and information asymmetry theory, and they contribute additional empirical evidence to the literature on financial reporting quality in emerging markets. The study suggests that regulatory bodies should enhance monitoring and shorten reporting deadlines, while supporting auditors and investors in making more effective evaluations and decisions.

Keywords: Financial Reporting, Listed Companies, FGLS Model, Timeliness

Từ Thúy Anh

Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam

Từ Lê Mai

Đại học Paris 1 Panthéon-Sorbonne, Pháp

Ngày nhận: 11/09/2025; Ngày hoàn thành biên tập: 12/12/2025; Ngày duyệt đăng: 15/12/2025

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.092025.1340

Tóm tắt: Nghiên cứu này phân tích mức độ chấp nhận của sinh viên đối với mô hình đào tạo gắn kết giữa học tập, nghiên cứu, xuất bản và đổi mới sáng tạo trong bối cảnh giáo dục đại học tại Việt Nam, dựa trên khung lý thuyết của Mô hình Chấp nhận Công nghệ (Technology Acceptance Model – TAM) và các mở rộng liên quan đến trải nghiệm nghiên cứu thực tế. Dữ liệu được thu thập từ khảo sát 446 sinh viên đại học và được phân tích bằng mô hình cấu trúc tuyến tính PLS-SEM, kết hợp với phân tích hồi quy tuyến tính nhằm kiểm chứng độ bền và tính nhất quán của kết quả. Kết quả cho thấy nhận thức về tính hữu ích và tính dễ sử dụng có ảnh hưởng tích cực đến thái độ của sinh viên, từ đó tác động gián tiếp đến ý định hành vi và hành vi sử dụng thực tế. Đồng thời, trải nghiệm nghiên cứu thực tế, đặc biệt là việc trình bày kết quả tại các diễn đàn học thuật, có tác động trực tiếp và có ý nghĩa thống kê đến hành vi sử dụng, khẳng định vai trò quan trọng của yếu tố trải nghiệm trong mô hình phân tích. Qua đó, nghiên cứu mở rộng bằng chứng thực nghiệm về TAM trong giáo dục đại học và đề xuất các hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy hoạt động nghiên cứu và xuất bản của sinh viên.

Từ khóa: Mô hình chấp nhận công nghệ, Đào tạo gắn với nghiên cứu và xuất bản, Phát triển nghề nghiệp, Thái độ, Ý định hành vi, Hành vi thực tế

PROFESSIONAL DEVELOPMENT THROUGH TRAINING INTEGRATED WITH RESEARCH, PUBLICATION, AND INNOVATION: A TECHNOLOGY ACCEPTANCE MODEL APPROACH

Abstract: This study examines students’ acceptance of a training model that integrates learning, research, publication and innovation in the context of higher education in Vietnam, drawing on the Technology Acceptance Model (TAM) and its extensions related to actual research experience. Data were collected from a survey of 446 undergraduate students and analyzed using partial least squares structural equation modeling (PLS-SEM), complemented by linear regression analysis to test the robustness and consistency of the results. The findings indicate that perceived usefulness and perceived ease of use have positive effects on students’ attitudes, which in turn indirectly influence behavioral intention and actual usage behavior. In addition, actual research experience—particularly presenting research outcomes at academic forums—has a direct and statistically significant impact on usage behavior, highlighting the important role of experiential factors in the analytical model. Overall, the study extends empirical evidence on the applicability of TAM in higher education and proposes policy implications to promote students’ engagement in research and publication activities.

Keywords: Technology Acceptance Model, Integrating Research and Publication, Career Development, Attitude, Behavioral Intention, Actual Use

Đào Thị Nhung

Trường Kinh tế- Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội, Hà Nội, Việt Nam

Ngày nhận: 12/03/2025; Ngày hoàn thành biên tập: 09/10/2025; Ngày duyệt đăng: 08/01/2026

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.032025.1263

Tóm tắt: Nghiên cứu phân tích tác động của năng lực kiểm soát rủi ro công nghệ đến chất lượng thông tin kế toán, đồng thời kiểm định vai trò trung gian của chất lượng hệ thống thông tin kế toán trong mối quan hệ đó. Dữ liệu từ 316 đáp viên của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Hà Nội được phân tích bằng phương pháp định lượng thông qua mô hình cấu trúc tuyến tính trên phần mềm SmartPLS. Kết quả cho thấy bốn yếu tố cấu thành năng lực kiểm soát rủi ro công nghệ (phần cứng, phần mềm, dữ liệu và nguồn nhân lực) đều tác động tích cực đến chất lượng hệ thống thông tin kế toán. Bên cạnh đó, chất lượng hệ thống thông tin kế toán giữ vai trò trung gian có ý nghĩa thống kê trong mối quan hệ giữa năng lực kiểm soát rủi ro công nghệ và chất lượng thông tin kế toán. Từ đó, bài viết góp phần hoàn thiện cơ sở lý thuyết và đưa ra một số hàm ý quản trị cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong bối cảnh chuyển đổi số.

Từ khóa: Chất lượng hệ thống thông tin kế toán, Chất lượng thông tin kế toán, Doanh nghiệp nhỏ và vừa, Năng lực kiểm soát rủi ro công nghệ

 

THE IMPACT OF TECHNOLOGY RISK CONTROL CAPABILITIES ON ACCOUNTING INFORMATION QUALITY: THE MEDIATING ROLE OF ACCOUNTING INFORMATION SYSTEM IN SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES IN HANOI

Abstract: This study analyzes the impact of technology risk control capabilities on accounting information quality, while examining the mediating role of accounting information systems in this relationship. Data from 316 respondents representing small and medium-sized enterprises (SMEs) in Hanoi were analyzed using a quantitative approach with structural equation modeling (SEM) through SmartPLS software. The results show that four components of technology risk control capabilities—hardware, software, data, and human resources—positively influence the quality of accounting information systems. Moreover, accounting information systems play a statistically significant mediating role in the relationship between technology risk control capabilities and accounting information quality. These findings enrich the theoretical foundation and provide managerial implications for SMEs in the context of digital transformation.

Keywords: Accounting Information Quality, Accounting Information System Quality, Small and Medium-Sized Enterprises, Technology Risk Control Capability

Lê Quý Dương

Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội, Việt Nam

Ngày nhận: 30/05/2025; Ngày hoàn thành biên tập: 30/09/2025; Ngày duyệt đăng: 12/1/2026

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.052025.1300

 

Tóm tắt: Nghiên cứu phân tích tác động của cấu trúc vốn đến giá trị doanh nghiệp niêm yết tại 06 thị trường chứng khoán lớn nhất khu vực ASEAN. Dữ liệu từ 3.350 doanh nghiệp giai đoạn 2015-2024 được phân tích bằng kiểm định thông qua mô hình ước lượng FGLS và SGMM để khắc phục các khuyết tật phương sai sai số thay đổi, tự tương quan và vấn đề nội sinh. Kết quả cho thấy hệ số ước lượng của biến cấu trúc vốn trong các mô hình đều đạt giá trị âm, có ý nghĩa thống kê ở mức 1%, khẳng định ảnh hưởng tiêu cực của cấu trúc vốn đến giá trị doanh nghiệp. Bằng việc so sánh về cấu trúc vốn giữa Việt Nam và các quốc gia khác, nghiên cứu cung cấp cái nhìn sâu sắc hơn về ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến giá trị doanh nghiệp niêm yết. Từ đó, bài viết đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam theo đuổi mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp.   

Từ khóa: Cấu trúc vốn, Giá trị doanh nghiệp, ASEAN 

 

THE EFFECT OF CAPITAL STRUCTURE ON THE VALUE OF LISTED FIRMS: 

A STUDY IN ASEAN NATIONS

Abstract:  The study aims to analyze the impact of capital structure on the value of listed firms in the six largest stock markets in the ASEAN region. Data from 3,350 firms from 2015 to 2024 were analyzed by testing through FGLS and SGMM estimation models to overcome the defects of heteroscedasticity, autocorrelation, and endogeneity problems. The results show that the estimated coefficients of capital structure variables in the models are all negative, statistically significant at the 1% level, confirming the negative impact of capital structure on firm value. By comparing capital structure between Vietnam and other countries, the study provides a deeper insight into the impact of capital structure on the value of listed firms. Consequently, the paper proposes several policy implications to support Vietnamese corporations in maximizing their values. 

Keywords: Capital Structure, Firm Value, ASEAN

Lê Thái Sơn

Trường Đại học Sài Gòn, TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam

Hoàng Đức Thắng

Trường Đại học Sài Gòn, TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam

Nguyễn Văn 

Trường Đại học Hàng hải Việt Nam, Hải Phòng, Việt Nam

Ngày nhận: 08/06/2025; Ngày hoàn thành biên tập: 23/09/2025; Ngày duyệt đăng: 12/1/2026

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.062025.1306

Tóm tắt: Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của các phương pháp học máy trong dự báo tổng sản phẩm quốc nội thực theo quý của Việt Nam, đồng thời so sánh với các mô hình kinh tế lượng truyền thống. Dữ liệu chuỗi số liệu theo quý giai đoạn 2010-2024, chia thành hai giai đoạn kiểm thử gồm thời kỳ đại dịch Covid-19 (2019-2021) và giai đoạn phục hồi hậu đại dịch (2023-2024), được phân tích bằng các mô hình học máy gồm hồi quy Ridge, hồi quy Lasso, hồi quy Elastic-Net, hồi quy véc-tơ hỗ trợ, mạng nơ-ron nhiều lớp (MLP) và mạng trí nhớ ngắn–dài (LSTM), đồng thời so sánh với mô hình hồi quy thông thường. Kết quả cho thấy các mô hình học máy đạt độ chính xác dự báo cao hơn đáng kể so với mô hình kinh tế lượng truyền thống, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế có nhiều biến động. Trong đó, LSTM là mô hình có hiệu suất tốt nhất ở cả hai giai đoạn, khẳng định ưu thế của mạng nơ-ron sâu trong dự báo chuỗi thời gian kinh tế vĩ mô. Kết quả nghiên cứu gợi ý các cơ quan hoạch định chính sách nên xem xét áp dụng các mô hình học sâu trong công tác dự báo kinh tế và điều hành vĩ mô để nâng cao độ chính xác dự báo và khả năng phản ứng của chính sách.

Từ khóa: Dự báo tổng sản phẩm quốc nội, Học máy, Hồi quy chính quy, Hồi quy véc tơ hỗ trợ, Mạng nơ-ron sâu

THE EFFECTIVENESS OF MACHINE LEARNING METHODS IN FORECASTING GROSS DOMESTIC PRODUCT: THE CASE OF VIETNAM

Abstract: This study aims to evaluate the effectiveness of machine learning methods in forecasting Vietnam’s quarterly real gross domestic product, while comparing their performance with traditional econometric models. The quarterly time-series data from 2010 to 2024, divided into two testing phases— the Covid-19 pandemic period (2019-2021) and the post-pandemic recovery period (2023-2024)— were analyzed using machine learning models, including Ridge regression, Lasso regression, Elastic-Net regression, Support Vector Regression (SVR), Multi-Layer Perceptron (MLP), and Long Short-Term Memory (LSTM) networks, and were compared with the conventional regression model. The results show that machine learning models achieve significantly higher forecasting accuracy than traditional econometric models, particularly under volatile economic conditions. Among them, the LSTM model demonstrates the best performance across both periods, highlighting the superiority of deep neural networks in forecasting macroeconomic time series. These findings suggest that policymakers should consider adopting deep learning models in economic forecasting and macroeconomic management to enhance prediction accuracy and policy responsiveness.

Keywords: Deep Neural Networks, GDP Forecasting, Machine Learning, Regularized Regression, Support Vector Regression