Sidebar

Magazine menu

30
T7, 08

Lê Trương Niệm

Trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam

Ngày nhận: 04/06/2025; Ngày hoàn thành biên tập: 11/08/2025; Ngày duyệt đăng: 29/08/2025

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.062025.1304

Tóm tắt: Nghiên cứu đánh giá tác động của công nghệ tài chính đến rủi ro của ngân hàng thương mại ở Việt Nam. Công nghệ tài chính được đo lường bằng Logarithm số lượng công ty công nghệ tài chính. Rủi ro của ngân hàng bao gồm rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống, đo lường bằng mô hình mô hình định giá tài sản vốn (CAPM), tiếp cận từ khía cạnh thị trường. Dữ liệu từ 26 ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2018-2023 được phân tích bằng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng. Kết quả cho thấy công nghệ tài chính tác động ngược chiều đến rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống. Quy mô ngân hàng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu, tỷ lệ thu nhập ngoài lãi trên tổng tài sản, tỷ lệ chi phí lãi trên tổng tiền gửi tác động cùng chiều đến rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống. Chi phí ngoài lãi trên tổng tài sản, tỷ lệ dự phòng rủi tác động ngược chiều đến rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống. Tỷ lệ tăng trưởng tác động cùng chiều đến rủi ro phi hệ thống của ngân hàng thương mại. Từ đó, bài viết cung cấp bằng chứng thực nghiệm giúp ngân hàng thương mại phát triển các chiến lược phù hợp trong bối cảnh số lượng các công ty công nghệ tài chính ngày càng gia tăng.

Từ khóa: Công nghệ tài chính, Rủi ro ngân hàng, Mô hình CAPM

THE IMPACT OF FINANCIAL TECHNOLOGY ON RISKS OF VIETNAMESE COMMERCIAL BANKS

Abstract:  The study assesses the impact of financial technology on the risks of commercial banks in Vietnam. Financial technology is measured by the logarithm of the number of financial technology companies. Bank risks include systematic risks and unsystematic risks, measured by the capital asset pricing model (CAPM), approaching from the market perspective. Data from 26 Vietnamese commercial banks in the period 2018-2023 are analyzed by panel data regression method. The results show that financial technology has an inverse impact on systemic risks and unsystematic risks. Bank size, capital ratio, ratio of non-interest income to total assets, funding cost have a positive impact on systemic risks and unsystematic risks. Ratio of non-interest expenses to total assets, loan loss provisions have an inverse impact on systemic risks and unsystematic risks. Growth rate has a positive impact on non-systemic risk of commercial banks. From there, the article provides empirical evidence to help commercial banks develop appropriate strategies in the context of the increasing number of financial technology companies.

Keywords: Financial Technology, Banking Risk, CAPM Model

 

[1] Tác giả liên hệ, Email: Địa chỉ email này đang được bảo vệ từ spam bots. Bạn cần bật JavaScript để xem nó.

Phạm Duy Tính

Trường Đại học Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam

Ngày nhận: 29/04/2025; Ngày hoàn thành biên tập: 07/07/2025; Ngày duyệt đăng: 29/08/2025

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.042025.1287

Tóm tắt: Nghiên cứu kiểm tra tác động phi tuyến của tín dụng ngân hàng đến sản lượng kinh tế dưới góc độ vi mô và phân tích sự khác biệt giữa các ngành tại Việt Nam trong bối cảnh tín dụng đang mở rộng ở mức cao. Dữ liệu từ 623 doanh nghiệp niêm yết tại HOSE và HNX giai đoạn 2004-2023 được ước lượng bằng mô hình tác động cố định và tác động ngẫu nhiên (Pooled OLS, FEM và REM). Kết quả cho thấy tác động phi tuyến dạng chữ U ngược khi xem xét dưới góc độ hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp, đồng thời chỉ ra sự khác biệt đáng kể trong mức độ nhạy cảm tiêu cực của các ngành kinh tế đối với việc gia tăng tín dụng ngân hàng khi ở mức cao. Các ngành nguyên vật liệu và công nghiệp thể hiện tác động biên giảm dần ít nhất, hàm ý dư địa hấp thụ vốn tốt hơn các ngành có tác động biên giảm dần mạnh nhất như bất động sản hay tiện ích công cộng, tiêu dùng. Từ đó, bài viết đưa ra một số hàm ý chính sách cho Ngân hàng Nhà nước trong việc định hướng chính sách tín dụng hiệu quả hơn trong bối cảnh tín dụng đang ở mức cao.

Từ khóa: Tín dụng ngân hàng, Sản lượng kinh tế, Tác động phi tuyến, Phân tích theo ngành

THE NONLINEAR IMPACT OF BANK CREDIT ON ECONOMIC OUTPUT IN VIETNAM: SECTORAL EMPIRICAL EVIDENCE

Abstract: This study examines the nonlinear impact of bank credit on economic output from a micro-level perspective and analyzes the differences across various sectors in Vietnam amidst a context of high credit expansion. Data from 623 firms listed on the Ho Chi Minh Stock Exchange (HOSE) and the Hanoi Stock Exchange (HNX) for the period 2004-2023 are estimated using panel data models, including Pooled Ordinary Least Squares (Pooled OLS), Fixed Effects Model (FEM), and Random Effects Model (REM). The results reveal an inverted U-shaped nonlinear effect when considering the firm performance. Furthermore, the findings indicate significant differences in the negative sensitivity of economic sectors to increases in bank credit at high levels. The basic materials and industrials sectors exhibit the least diminishing marginal impact, which implies a better capacity for capital absorption compared to sectors with the strongest diminishing marginal impact, such as real estate, utilities and consumer sectors. From these findings, the paper proposes several policy implications for the State Bank of Vietnam to orient credit policy more effectively in the context of high credit levels.

Keywords: Bank Credit, Economic Output, Nonlinear Impact, Sectoral Analysis

 

 

 Kim Hương Trang

Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam

Trần Ngọc Hà

Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam

Trần Khánh Linh

Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam

Nguyễn Ngọc Tâm Anh

Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam

Nguyễn Trà My

Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam

Tăng Minh Ngọc

Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam

Ngày nhận: 14/04/2025; Ngày hoàn thành biên tập: 07/07/2025; Ngày duyệt đăng: 29/08/2025

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.042025.1278

 

Tóm tắt: Nghiên cứu phân tích mối quan hệ giữa thực trạng phô trương ESG và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Việt Nam. Ngữ điệu của 1049 báo cáo ESG từ 118 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2014-2023 được phân tích bằng phương pháp xử lý dữ liệu tích hợp mô hình trí tuệ nhân tạo PhoBERT. Kết quả cho thấy các công ty có kết quả hoạt động kinh doanh kém thường tăng cường sử dụng ngữ điệu tích cực trong báo cáo ESG. Đồng thời, ngữ điệu ESG tích cực có liên hệ tích cực với hiệu suất thị trường hiện tại, phản ánh qua niềm tin lạc quan từ phía nhà đầu tư. Từ đó, bài viết nhấn mạnh vai trò chiến lược của quản trị ngữ điệu trong việc định hình hình ảnh doanh nghiệp và giá trị xã hội - kinh tế, đồng thời kêu gọi chuẩn hóa báo cáo ESG để tăng cường tính minh bạch trong một thị trường đang phát triển.

Từ khóa: Quản trị ngữ điệu, ESG, Hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, Xử lý ngôn ngữ tự nhiên, PhoBERT

“FLEXING” ESG AND BUSINESS PERFORMANCE: ANALYSIS THROUGH THE LENS OF PHOBERT - AN ARTIFICIAL INTELLIGENCE MODEL

Abstract: The study analyzes the relationship between the current state of flexing ESG and the performance of Vietnamese enterprises. The tone of 1049 ESG reports from 118 companies listed on the Vietnam Stock Exchange during the period 2014-2023 was analyzed using data processing methods integrated with the PhoBERT artificial intelligence model. The findings reveal that companies with poor business performance tend to increase the use of positive tone in their ESG reports. Besides, the positive ESG tone shows a significant positive correlation with current market performance, reflecting investor optimism. Consequently, the research underscores the strategic role of tone management in shaping a company’s image and socio-economic value, while advocating for the standardization of ESG reporting to enhance transparency within an emerging market.

Keywords: Tone Management, ESG, Firm Performance, Natural Language Processing, PhoBert

 

 

Phan Thu Trang 

Trường Đại học Thương Mại, Hà Nội, Việt Nam 

Ngày nhận: 13/03/2025; Ngày hoàn thành biên tập: 07/07/2025; Ngày duyệt đăng: 29/08/2025

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.032025.1264

 

Tóm tắt: Nghiên cứu phân tích tác động của năng lực đổi mới sáng tạo và kinh nghiệm xuất khẩu đến hiệu quả xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam. Phân tích hồi quy từ dữ liệu của 263 doanh nghiệp cho thấy cả hai yếu tố này đều có ảnh hưởng tích cực tới hiệu quả xuất khẩu của doanh nghiệp, khẳng định rằng doanh nghiệp có năng lực đổi mới sáng tạo và tích lũy đủ kinh nghiệm xuất khẩu sẽ đạt được hiệu quả xuất khẩu cao. Đặc biệt, kết quả cũng tìm ra tác động cộng hưởng khi doanh nghiệp sở hữu đồng thời cả hai nguồn lực này, sẽ mang lại hiệu quả xuất khẩu vượt trội. Từ đó, bài viết đề xuất các giải pháp chiến lược đối với các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam, đồng thời kiến nghị một số chính sách hỗ trợ từ phía cơ quan quản lý Nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới.

Từ khóa: Xuất khẩu, Năng lực đổi mới sáng tạo, Kinh nghiệm xuất khẩu, Hiệu quả xuất khẩu, Doanh nghiệp Việt Nam

IMPACT OF INNOVATION CAPABILITY AND EXPORT EXPERIENCE ON EXPORT PERFORMANCE OF VIETNAMESE ENTERPRISES

Abstract: This study examines the impact of innovation capability and export experience on the export performance of Vietnamese enterprises. Regression analysis on a sample of 263 enterprises reveals that both factors contribute positively to export performance, affirming that enterprises with strong innovation capabilities and accumulated export experience achieve higher export performance. Notably, our findings indicate a synergistic effect of innovation capability and export experience, where enterprises exhibit superior export performance when they possess both resources concurrently. These insights suggest strategic solutions for Vietnamese export enterprises, as well as policy recommendations for government support, to enhance Vietnam's export performance in the future.

Keywords: Export, Innovation Capability, Export Experience, Export Performance, Vietnamese Enterprises

 

 

 Lâm Thị Trúc Linh 

Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, Phân hiệu Vĩnh Long, Việt Nam

Nguyễn Hồng Nga

Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, Phân hiệu Vĩnh Long, Việt Nam

Nguyễn Ngọc Thọ

Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, Phân hiệu Vĩnh Long, Việt Nam

Ngày nhận: 21/04/2025; Ngày hoàn thành biên tập: 07/07/2025; Ngày duyệt đăng: 29/08/2025

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.042025.1284

Tóm tắt: Nghiên cứu nhằm khám phá các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin phát thải khí nhà kính (Greenhouse Gas - GHG) của các công ty niêm yết tại Việt Nam. Dữ liệu từ 133 công ty giai đoạn 2021-2023 được phân tích bằng mô hình hồi quy sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát (GLS). Kết quả chỉ ra các đặc điểm của Hội đồng Quản trị như quy mô, tỷ lệ thành viên không điều hành, tỷ lệ thành viên nữ không có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin phát thải nhà kính. Với nhóm nhân tố bên trong, tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản không có ảnh hưởng, trong khi tỷ lệ cổ đông nước ngoài, quy mô công ty, đòn bẩy tài chính lại có ảnh hưởng đáng kể đến mức độ công bố thông tin GHG. Từ đó, bài viết đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm thúc đẩy tính minh bạch trong công bố thông tin phát thải nhà kính qua thực hiện kế toán carbon bao gồm việc đo lường, ghi nhận và công bố báo cáo tài chính.

Từ khóa: Cổ đông nước ngoài, Đòn bẩy tài chính, Kế toán carbon, Khí nhà kính (GHG), Quy mô công ty

FACTORS AFFECTING GREENHOUSE GAS EMISSIONS, DISCLOSURE, AND ORIENTATIONS FOR APPLYING CARBON ACCOUNTING IN VIETNAM.

Abstract: This study aims to explore the factors that influence the level of Greenhouse Gas (GHG) disclosure by listed companies in Vietnam. Data from 133 companies, from the period 2021-2023, were analyzed using regression models with the Generalized Least Squares (GLS) method. The results indicate that board characteristics, including board size, the proportion of non-executive members, and the proportion of female members, do not significantly affect the level of GHG disclosure. Among internal factors, return on assets shows no significant impact. In contrast, foreign ownership, firm size, and financial leverage are found to have a significant influence on the extent of GHG disclosure. Based on these findings, the study proposes several governance implications to enhance transparency in GHG emissions disclosure through the application of carbon accounting, including the measurement, recognition, and disclosure of greenhouse gas emissions in financial statements.

Keywords: Carbon Accounting, Foreign Shareholders, Firm Size, Financial Leverage, Greenhouse Gas

 

 

Nguyễn Vũ Hùng

Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, Việt Nam

Nguyễn Vân Anh

Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông, Hà Nội, Việt Nam

Lê Thị Thu Mai

Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, Việt Nam

Ngày nhận: 04/04/2025; Ngày hoàn thành biên tập: 12/05/2025; Ngày duyệt đăng: 26/08/2025

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.042025.1276

Tóm tắt: Nghiên cứu giải thích vai trò điều tiết của niềm tin về cuộc sống sau cái chết đối với tác động của cảm nhận bất định tới hành vi mua sắm ngẫu hứng. Dữ liệu từ 410 người tiêu dùng tại Hà Nội được phân tích bằng phần mềm SPSS 22. Kết quả cho thấy cảm nhận bất định về bản thân và về vai trò xã hội của bản thân sẽ khiến các cá nhân có xu hướng thực hiện các hành vi mua sắm ngẫu hứng. Tuy nhiên, niềm tin về cuộc sống sau cái chết đóng vai trò điều tiết, làm giảm tác động của cảm nhận bất định về bản thân và hành vi mua sắm ngẫu hứng. Ngược lại, niềm tin này làm tăng tác động của cảm nhận bất định về vai trò xã hội của bản thân tới hành vi mua sắm ngẫu hứng. Từ đó, bài viết góp phần mở rộng góc nhìn của các lý thuyết về bất định bản sắc, giảm thiểu bất định và lý thuyết quản lý nỗi sợ nhằm làm rõ cơ chế dẫn đến hành vi mua sắm ngẫu hứng khi đối mặt với bất định. Kết quả nghiên cứu cũng giúp đưa ra một số hàm ý chính sách cho người tiêu dùng và nhà quản lý.

Từ khoá: Hành vi mua sắm ngẫu hứng, Cảm nhận bất định về cá nhân, Cảm nhận bất định về vai trò xã hội của bản thân, Niềm tin về cuộc sống sau cái chết

THE IMPACT OF PERCEIVED UNCERTAINTY ON IMPULSIVE BUYING BEHAVIOR: THE MODERATORING ROLE OF AFTERLIFE BELIEF

Abstract: This study examines moderating role of the Afterlife Belief on the relationship between perceived uncertainty and impulsive buying behavior. Data collected from a survey of 410 participants in Hanoi were analyzed using SPSS 22. The findings reveal that perceived self-uncertainty and social uncertainty positively impact impulsive buying behavior. However, afterlife belief is found to negatively moderate the relationship from perceived self-uncertainty to impulsive buying behavior while positively moderate the relationship from perceived social uncertainty to the behavior. These findings extend the theories of uncertainty-identity, uncertainty reduction, and terror management theory by clarifying the mechanisms from uncertainty to impulsive buying behavior. Practically, these findings offer policy implications for consumers and policy makers to solve the related issues.

Keywords: Impulsive Buying Behavior, Perceived Self-Uncertainty, Perceived Social Uncertainty, Afterlife Belief 

 

 

Nguyễn Hùng Cường

Học viện Phụ nữ Việt Nam, Hà Nội, Việt Nam

Ngày nhận: 07/03/2025; Ngày hoàn thành biên tập: 06/08/2025; Ngày duyệt đăng: 29/08/2025

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.032025.1262

 

Tóm tắt: Nghiên cứu kiểm định sự khác biệt trong nhận thức và quan điểm về khởi nghiệp giữa sinh viên nam và nữ tại một số trường đại học ở Hà Nội. Dữ liệu từ 407 sinh viên được phân tích bằng các kiểm định Kolmogorov–Smirnov và Mann–Whitney U thông qua phần mềm SPSS 26.0. Kết quả cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm giới tính về quan điểm lãnh đạo, rào cản và phân biệt đối xử trong khởi nghiệp. Ngược lại, các yếu tố như nhận thức về cơ hội, khả năng gọi vốn và hỗ trợ từ môi trường không cho thấy sự khác biệt đáng kể. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy môi trường khởi nghiệp bình đẳng giới trong các cơ sở giáo dục đại học.

Từ khóa: Định kiến giới, Khởi nghiệp kinh doanh, Bình đẳng giới, Sinh viên khởi nghiệp, Khuôn mẫu giới

GENDER BIAS IN ENTREPRENEURSHIP AMONG STUDENTS AT SELECTED UNIVERSITIES IN VIETNAM

Abstract: This study examines gender-based differences in entrepreneurial perceptions and attitudes among university male and female students in Hanoi. Data were collected from 407 students and analyzed using the Kolmogorov–Smirnov test and the Mann–Whitney U test in SPSS 26.0. The findings reveal statistically significant differences between 2 gender groups regarding leadership perception, barriers, and gender discrimination in entrepreneurship. In contrast, factors such as opportunity perception, fundraising capability, and environmental support did not show any significant differences. Based on these findings, the paper proposes several policy implications to promote a gender-equal entrepreneurial environment within higher education institutions.

Keywords: Gender Bias, Business Entrepreneurship, Gender Equality, Student Entrepreneurship, Gender Stereotype

 

Các bài khác...