Sidebar

Magazine menu

30
CN, 08

Nguyễn Ngọc Sơn Tùng

Văn phòng Chính phủ, Hà Nội, Việt Nam

Nguyễn Ngọc Sơn

Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, Việt Nam

Ngày nhận: 30/07/2026; Ngày hoàn thành biên tập: 28/07/2026; Ngày duyệt đăng: 27/08/2026

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.072026.1510

Tóm tắt: Nghiên cứu nhằm đánh giá tiềm năng phát triển cụm ngành chế biến, chế tạo trên địa bàn các tỉnh vùng Trung du và miền núi phía Bắc. Dữ liệu thứ cấp từ Cục Thống kê giai đoạn 2020-2023 được phân tích bằng phương pháp định lượng và kết hợp với phân tích định tính thông qua rà soát các chủ trương của Đảng, quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước và tham khảo ý kiến chuyên gia. Kết quả chỉ ra rằng có 06 ngành chế biến, chế tạo có tiềm năng để phát triển cụm ngành trên địa bàn vùng. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý chính sách để các cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội và doanh nghiệp có thể xây dựng quy hoạch, hoàn thiện chính sách và hoạch định chiến lược kinh doanh cho các tỉnh một cách phù hợp.

Từ khóa: Chỉ số đánh giá tiềm năng phát triển cụm ngành, Cụm ngành tiềm năng, Ngành công nghiệp chế biến chế tạo, Vùng Trung du và miền núi phía Bắc

 DEVELOPMENT POTENTIAL OF PROCESSING AND MANUFACTURING INDUSTRIAL CLUSTER IN THE NORTHERN MIDLAND AND MOUNTAINOUS REGION OF VIET NAM

 Abstract: This study aims to assess the potential for developing processing and manufacturing industry clusters in the provinces of Vietnam’s Northern Midlands and Mountainous Region. Secondary data from the Statistics Office for the period 2020–2023 are analyzed using quantitative methods, complemented by qualitative analysis based on a review of the Party’s guidelines, government planning and plans, and expert consultations. The results identify six processing and manufacturing industries with potential for cluster development in the region. Based on these findings, the study proposes several policy implications to inform provincial planning, policy improvement, and business strategy formulation by government agencies, industry associations, and businesses.

Keywords: Clustering Potential Index, Potential Industrial Cluster, Processing and Manufacturing Industries, Northern Midlands and Mountainous Region

 

 

 

Nguyễn Bình An

Bộ Công Thương, Hà Nội, Việt Nam

Ngày nhận: 29/07/2026; Ngày hoàn thành biên tập: 28/08/2026; Ngày duyệt đăng: 27/08/2026

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.072026.1509

Tóm tắt: Nghiên cứu nhằm nhận diện năng lực giúp Việt Nam tận dụng Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) trong bối cảnh thương mại xanh, chuyển đổi số và tái cấu trúc chuỗi cung ứng. Dữ liệu gồm văn kiện RCEP, các công trình học thuật, báo cáo chính sách, số liệu thứ cấp về xuất khẩu giai đoạn 2016-2025 và giấy chứng nhận xuất xứ ưu đãi (C/O) 2022-2024 được phân tích bằng phương pháp thống kê mô tả kết hợp cùng tổng quan tích hợp và phân tích chính sách. Kết quả cho thấy xuất khẩu của Việt Nam sang RCEP đạt 172,08 tỷ USD năm 2025, trong khi tỷ lệ sử dụng C/O RCEP chỉ đạt 1,83% năm 2024. Hai chỉ báo phản ánh những khía cạnh khác nhau của quan hệ thương mại: quy mô xuất khẩu cho thấy tầm quan trọng của thị trường RCEP, còn tỷ lệ C/O phản ánh mức sử dụng ưu đãi thuế quan theo Hiệp định. Từ đó, bài viết đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm mở rộng cách tiếp cận về tận dụng các hiệp định thương mại tự do từ góc độ năng lực chuyển hóa ưu đãi.

Từ khóa: Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực, Thương mại xanh, Chuyển đổi số, Chuỗi cung ứng, Xuất khẩu

LEVERAGING RCEP IN THE CONTEXT OF GREEN TRADE, DIGITALIZATION, AND SUPPLY CHAIN RESTRUCTURING: IMPLICATIONS FOR VIETNAM'S EXPORTS

Abstract: This study identifies the capabilities that enable Vietnam to leverage the Regional Comprehensive Economic Partnership (RCEP) in the context of green trade, digital transformation, and supply chain restructuring. The study draws on the RCEP Agreement, academic literature, policy reports, secondary export data for 2016–2025, and preferential certificate of origin (C/O) data for 2022–2024. These data are analyzed using descriptive statistics combined with an integrative literature review and policy analysis. The results show that Vietnam’s exports to RCEP markets reached USD 172.08 billion in 2025, while the utilization rate of RCEP preferential C/Os was only 1.83% in 2024. The two indicators capture different dimensions of the trade relationship: export value reflects the importance of RCEP markets, whereas the C/O utilization rate reflects the extent to which tariff preferences under the Agreement are utilized. Based on these findings, the study proposes several policy implications and broadens the approach to FTA utilization from the perspective of the capability to translate trade preferences into trade outcomes.

Keywords: Regional Comprehensive Economic Partnership, Green Trade, Digital Transformation, Supply Chains, Exports

 

Nguyễn Thị Thúy Quỳnh

Học viện Tài chính, Hà Nội, Việt Nam

Mai Thị Thu Trang

Học viện Tài chính, Hà Nội, Việt Nam

Vũ Thị Phương Liên

Học viện Tài chính, Hà Nội, Việt Nam

Nguyễn Thị Quỳnh Châm

Học viện Tài chính, Hà Nội, Việt Nam

Nguyễn Gia Khánh

Công ty cổ phần AIS LABEL, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam

Ngày nhận: 24/03/2026; Ngày hoàn thành biên tập: 14/08/2026; Ngày duyệt đăng: 28/08/2026

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.032026.1468 

Tóm tắt: Nghiên cứu nhằm đo lường hiệu quả hoạt động doanh nghiệp công nghệ thông tin niêm yết tại Việt Nam. Dữ liệu từ báo cáo tài chính và báo cáo thường niên của 21 doanh nghiệp công nghệ thông tin năm 2023 được phân tích bằng phương pháp định lượng thông qua việc xây dựng chỉ số hiệu quả tổng hợp SP-Score mở rộng 10 biến để phản ánh khả năng sinh lời, năng suất lao động và tốc độ tăng trưởng của hiệu quả hoạt động. Kết quả cho thấy SP-Score dao động từ 93,234 đến 113,860 điểm và thứ hạng theo SP-Score không trùng khớp hoàn toàn với thứ hạng theo từng chỉ tiêu tài chính riêng lẻ, qua đó cho thấy giá trị thông tin bổ sung của chỉ số tổng hợp trong đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Từ đó, bài viết đề xuất các doanh nghiệp sử dụng SP-Score như công cụ bổ trợ bên cạnh các tỷ suất tài chính truyền thống khi so sánh hiệu quả giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành, đồng thời chú trọng cải thiện đồng bộ cả ba phương diện khả năng sinh lời, năng suất lao động và tốc độ tăng trưởng thay vì tối ưu riêng lẻ từng chỉ tiêu.

Từ khóa: Chỉ số tổng hợp, Doanh nghiệp công nghệ thông tin, Hiệu quả hoạt động, SP-Score, Việt Nam

MEASURING THE PERFORMANCE OF LISTED INFORMATION TECHNOLOGY FIRMS IN VIETNAM: A COMPOSITE INDEX APPROACH BASED ON SP-SCORE

Abstract: This study measures the performance of listed information technology firms in Vietnam. Data from the 2023 financial statements and annual reports of 21 listed information technology firms were analyzed quantitatively by constructing an extended SP-Score composite index of 10 component variables reflecting profitability, labor productivity and growth. The results show that SP-Scores range from 93,234 to 113,860 points, and that rankings based on the SP-Score do not fully coincide with those derived from individual financial indicators, thereby demonstrating the additional informational value of the composite index in assessing firm performance. The paper accordingly proposes several managerial implications: the SP-Score should be used as a complement to, rather than a substitute for, traditional financial ratios when comparing firms within the same industry, and managers should seek balanced improvement across all three dimensions of profitability, labor productivity and growth rather than optimizing individual indicators in isolation.

Keywords: Composite Index, Firm Performance, Information Technology Firms, SP-Score, Vietnam

 

 

 

Tống Viết Bảo Hoàng

Trường Đại Kinh tế, Đại học Huế, Thành phố Huế, Việt Nam

Lê Thị Phương Thanh

Trường Đại Kinh tế, Đại học Huế, Thành phố Huế, Việt Nam

Phạm Xuân Hùng

Trường Đại Kinh tế, Đại học Huế, Thành phố Huế, Việt Nam

Lê Thị Phương Thảo

Trường Đại Kinh tế, Đại học Huế, Thành phố Huế, Việt Nam

Hoàng Việt Hạnh Nguyên

Trường Đại Kinh tế, Đại học Huế, Thành phố Huế, Việt Nam

Ngày nhận: 05/03/2026; Ngày hoàn thành biên tập: 31/07/2026; Ngày duyệt đăng: 27/08/2026

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.032026.1461

Tóm tắt: Nghiên cứu nhằm kiểm định tính bất biến đo lường và mức độ ổn định cấu trúc của mô hình marketing số (Digital Marketing - DM) trong việc lựa chọn khách sạn 5 sao giữa các nhóm khách có nền tảng văn hóa khác nhau. Dữ liệu từ 636 khách lưu trú tại 11 khách sạn 5 sao ở Huế được phân tích bằng mô hình phương trình cấu trúc dựa trên bình phương tối thiểu từng phần (PLS-SEM). Kết quả cho thấy marketing số và lựa chọn khách sạn đạt mức bất biến toàn phần, trong khi danh tiếng thương hiệu chỉ đạt mức bất biến đo lường một phần giữa hai nhóm khác hàng Đông Á và Châu Âu. Điểm mới là chuyển trọng tâm từ kiểm định tác động của DM sang xác lập tính bất biến đo lường như một điều kiện tiên quyết để bảo đảm tính hợp lệ của các phép so sánh giữa các nhóm trong mô hình PLS-SEM. Từ đó, bài viết đề xuất hàm ý quản trị nhằm giúp các khách sạn 5 sao duy trì nền tảng marketing số thống nhất, đồng thời điều chỉnh thông điệp truyền thông về danh tiếng thương hiệu phù hợp với từng nhóm khách hàng quốc tế.

Từ khóa: Bất biến đo lường xuyên văn hóa, Danh tiếng thương hiệu, Marketing số tích hợp, Lựa chọn khách sạn

CROSS-CULTURAL INVARIANCE OF THE DIGITAL MARKETING MODEL IN FIVE-STAR HOTEL CHOICE

 Abstract:  This study examines measurement invariance and the structural stability of the Digital Marketing (DM) model in five-star hotel selection across customer groups with different cultural backgrounds. Data from 636 guests staying at 11 five-star hotels in Hue were analyzed using Partial Least Squares Structural Equation Modeling (PLS-SEM). The results show that digital marketing and hotel selection achieve full measurement invariance, whereas brand reputation achieves only partial measurement invariance between the East Asian and European customer groups. The novelty of this study lies in shifting the focus from examining the effects of DM to establishing measurement invariance as a prerequisite for valid between-group comparisons in PLS-SEM. Based on these findings, the study provides managerial implications for five-star hotels, suggesting that they maintain a consistent digital marketing foundation while adapting brand reputation-related communication messages to different international customer segments.

Keywords: Brand Reputation Reputation, Cross-cultural Measurement Invariance, Hotel Choice, Integrated Digital Marketing

 

 

Nguyễn Thị Lan

Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam

Đoàn Minh Triết

Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam

Ngày nhận: 10/06/2026; Ngày hoàn thành biên tập: 27/07/2026; Ngày duyệt đăng: 24/08/2026

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.062026.1498

Tóm tắt: Nghiên cứu phân tích tác động của phát triển tài chính đến dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài dưới vai trò điều tiết của chất lượng thể chế tại 27 quốc gia Châu Á giai đoạn 2000-2023. Dữ liệu từ Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) được phân tích bằng các phương pháp hồi quy dữ liệu bảng, bao gồm hồi quy gộp (POLS), tác động cố định (FEM), tác động ngẫu nhiên (REM), bình phương tối thiểu tổng quát khả thi (FGLS) và GMM hệ thống (SGMM). Kết quả cho thấy phát triển tài chính và chất lượng thể chế đều có tác động tích cực đến khả năng thu hút FDI. Đồng thời, biến tương tác giữa phát triển tài chính và chất lượng thể chế có ý nghĩa thống kê, cho thấy chất lượng thể chế đóng vai trò điều tiết trong mối quan hệ giữa phát triển tài chính và FDI. Mặc dù hệ số của biến tương tác mang dấu âm, kết quả cho thấy tác động tích cực của phát triển tài chính đến FDI có xu hướng giảm khi chất lượng thể chế được cải thiện. Từ những phát hiện trên, bài viết bổ sung bằng chứng thực nghiệm về vai trò điều tiết của chất lượng thể chế trong mối quan hệ giữa phát triển tài chính và FDI tại các quốc gia Châu Á, qua đó hàm ý rằng việc phát triển hệ thống tài chính cần được thực hiện đồng thời với nâng cao chất lượng thể chế nhằm tăng cường khả năng thu hút FDI bền vững.

Từ khoá: Chất lượng thể chế, Châu Á, Đầu tư trực tiếp nước ngoài, Phát triển tài chính

THE IMPACT OF FINANCIAL DEVELOPMENT ON FOREIGN DIRECT INVESTMENT: THE MODERATING ROLE OF INSTITUTIONAL QUALITY IN SELECTED ASIAN ECONOMIES FROM 2000 TO 2023

Abstract: This study examines the impact of financial development on FDI inflows, with institutional quality serving as a moderating factor, across 27 Asian countries over the period 2000-2023. Data obtained from the World Bank (WB) and the International Monetary Fund (IMF) are analyzed using panel data regression methods, including pooled ordinary least squares (POLS), fixed effects model (FEM), random effects model (REM), feasible generalized least squares (FGLS), and system generalized method of moments (SGMM). The results show that both financial development and institutional quality have positive effects on FDI attraction. Meanwhile, the interaction term between financial development and institutional quality is statistically significant, indicating that institutional quality plays a moderating role in the relationship between financial development and FDI. Although the interaction coefficient is negative, the results suggest that the positive effect of financial development on FDI tends to diminish as institutional quality improves. Accordingly, this paper provides additional empirical evidence on the moderating role of institutional quality in the relationship between financial development and FDI in Asian countries, while suggesting that the development of the financial system should be accompanied by improvements in institutional quality to enhance the sustainable attraction of FDI.

Keywords: Institutional Quality, Asia, Foreign Direct Investment, Financial Development

 

 

Nguyễn Hoàng Giang

Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông, Hà Nội, Việt Nam

Nguyễn Mai Anh[1]

Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam

Lê Bảo Ngọc

Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông, Hà Nội, Việt Nam

Nguyễn Minh Vũ

Trường Truyền thông, Ngôn ngữ và Giao tiếp, Đại học East Anglia, Vương Quốc Anh

Ngày nhận: 19/03/2026; Ngày hoàn thành biên tập: 29/06/2026; Ngày duyệt đăng: 25/08/2026

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.032026.1467

Tóm tắt: Nghiên cứu này nhằm khám phá tác động từ người có tầm ảnh hưởng trên mạng xã hội đến ý định ghé thăm điểm đến du dịch, đồng thời kiểm định vai trò điều tiết của sự hiện diện xã hội trong mối quan hệ này. Dữ liệu từ 238 đáp viên có theo dõi nội dung du lịch của người có tầm ảnh hưởng trên mạng xã hội được phân tích bằng kỹ thuật bình phương tối thiểu từng phần (PLS-SEM). Kết quả khẳng định được vai trò lý thuyết nguồn tín nhiệm trong việc lý giải tác động từ người có tầm ảnh hưởng trên mạng xã hội tới ý định ghé thăm điểm đến, đồng thời mở rộng lý thuyết này bằng việc bổ sung yếu tố tính xác thực và vai trò điều tiết của sự hiện diện xã hội. Từ đó, bài viết đề xuất một số hàm ý dành cho đơn vị truyền thông du lịch tối ưu chiến lược marketing qua người có tầm ảnh hưởng một cách hiệu quả và thu hút khách du lịch ghé thăm điểm đến.

Từ khoá: Ý định ghé thăm, Điểm đến du lịch, Sự hiện diện xã hội, Nguồn tín nhiệm

THE IMPACT OF SOCIAL MEDIA INFLUENCERS ON DESTINATION VISIT INTENTION: THE MODERATING ROLE OF SOCIAL PRESENCE

Abstract: This study aims to examine the impact of social media influencers on intention to visit tourism destinations, while also testing the moderating role of social presence. Data was collected from a survey of 238 respondents who follow travel content from social media influencers using partial least squares (PLS-SEM) analysis. The results confirm the role of Source credibility theory on destination visit intentions, and also extend this theory by adding authenticity and the moderator - social presence. Therefore, the study proposes several implications for designing effective influencer marketing strategies to attract tourists to visit destinations.

Keywords: Visit Intention, Tourist Destination, Social Presence, Source Credibility

 

[1] Tác giả liên hệ, Email: Địa chỉ email này đang được bảo vệ từ spam bots. Bạn cần bật JavaScript để xem nó.

Đỗ Thị Hồng Vân

Trường Đại học Công nghệ Giao thông vận tải, Hà Nội, Việt Nam

Ngày nhận: 02/02/2026; Ngày hoàn thành biên tập: 31/07/2026; Ngày duyệt đăng: 28/08/2026

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.022026.1454

Tóm tắt: Nghiên cứu này nhằm khám phá tác động của các yếu tố đến ý định tiêu dùng sản phẩm xanh của người tiêu dùng Việt Nam dựa trên lý thuyết giá trị - niềm tin - chuẩn mực. Dữ liệu thu thập từ 285 người tiêu dùng được phân tích thông qua mô hình phương trình cấu trúc (SEM). Kết quả cho thấy giá trị sinh thái tác động tích cực đến chuẩn mực cá nhân, trong khi giá trị vị tha và giá trị vị kỷ đều làm gia tăng kỳ vọng về kết quả của hành vi đối với cá nhân. Bên cạnh đó, chuẩn mực cá nhân góp phần hình thành cả kỳ vọng về kết quả của hành vi đối với xã hội và đối với cá nhân. Ngoài ra, cả hai dạng kỳ vọng này đều có tác động tích cực và mạnh mẽ đến ý định tiêu dùng sản phẩm xanh. Từ đó, bài viết đề xuất một số hàm ý chính sách cho các nhà hoạch định và tiếp thị về các chiến lược truyền thông nhằm thúc đẩy hành vi tiêu dùng có trách nhiệm, góp phần phát triển bền vững nền kinh tế.

Từ khóa: Giá trị môi trường, Kỳ vọng về kết quả của hành vi đối với xã hội, Kỳ vọng về kết quả của hành vi đối với cá nhân, Lý thuyết giá trị-niềm tin-chuẩn mực, Ý định tiêu dùng sản phẩm xanh

FACTORS AFFECTING GREEN PRODUCT CONSUMPTION INTENTION: A PERSPECTIVE FROM THE VALUE-BELIEF-NORM THEORY

Abstract: This study aims to examine factors affecting Vietnamese green consumption intention based on the value-belief-norm theory. Data collected from 285 consumers were analyzed using structural equation modeling (SEM). The findings indicated that biospheric values positively influence personal norms, whereas both altruistic and egoistic values positively influence personal outcome expectations. Furthermore, personal norms positively influence personal outcome expectations and social outcome expectations. In turn, social outcome expectations and personal outcome expectations positively influence green product consumption intention. The study provides policy and managerial implications for policymakers and marketers in designing communication strategies to promote responsible consumption behaviors, thereby contributing to sustainable economic development.

Keywords: Environmental Values, Social Outcome Expectations, Personal Outcome Expectations, Value-Belief-Norm Theory, Green Consumption Intention

 

 

Các bài khác...