Nguyễn Thị Thúy Quỳnh
Học viện Tài chính, Hà Nội, Việt Nam
Mai Thị Thu Trang
Học viện Tài chính, Hà Nội, Việt Nam
Vũ Thị Phương Liên
Học viện Tài chính, Hà Nội, Việt Nam
Nguyễn Thị Quỳnh Châm
Học viện Tài chính, Hà Nội, Việt Nam
Nguyễn Gia Khánh
Công ty cổ phần AIS LABEL, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
Ngày nhận: 24/03/2026; Ngày hoàn thành biên tập: 14/08/2026; Ngày duyệt đăng: 28/08/2026
DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.032026.1468
Tóm tắt: Nghiên cứu nhằm đo lường hiệu quả hoạt động doanh nghiệp công nghệ thông tin niêm yết tại Việt Nam. Dữ liệu từ báo cáo tài chính và báo cáo thường niên của 21 doanh nghiệp công nghệ thông tin năm 2023 được phân tích bằng phương pháp định lượng thông qua việc xây dựng chỉ số hiệu quả tổng hợp SP-Score mở rộng 10 biến để phản ánh khả năng sinh lời, năng suất lao động và tốc độ tăng trưởng của hiệu quả hoạt động. Kết quả cho thấy SP-Score dao động từ 93,234 đến 113,860 điểm và thứ hạng theo SP-Score không trùng khớp hoàn toàn với thứ hạng theo từng chỉ tiêu tài chính riêng lẻ, qua đó cho thấy giá trị thông tin bổ sung của chỉ số tổng hợp trong đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Từ đó, bài viết đề xuất các doanh nghiệp sử dụng SP-Score như công cụ bổ trợ bên cạnh các tỷ suất tài chính truyền thống khi so sánh hiệu quả giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành, đồng thời chú trọng cải thiện đồng bộ cả ba phương diện khả năng sinh lời, năng suất lao động và tốc độ tăng trưởng thay vì tối ưu riêng lẻ từng chỉ tiêu.
Từ khóa: Chỉ số tổng hợp, Doanh nghiệp công nghệ thông tin, Hiệu quả hoạt động, SP-Score, Việt Nam
MEASURING THE PERFORMANCE OF LISTED INFORMATION TECHNOLOGY FIRMS IN VIETNAM: A COMPOSITE INDEX APPROACH BASED ON SP-SCORE
Abstract: This study measures the performance of listed information technology firms in Vietnam. Data from the 2023 financial statements and annual reports of 21 listed information technology firms were analyzed quantitatively by constructing an extended SP-Score composite index of 10 component variables reflecting profitability, labor productivity and growth. The results show that SP-Scores range from 93,234 to 113,860 points, and that rankings based on the SP-Score do not fully coincide with those derived from individual financial indicators, thereby demonstrating the additional informational value of the composite index in assessing firm performance. The paper accordingly proposes several managerial implications: the SP-Score should be used as a complement to, rather than a substitute for, traditional financial ratios when comparing firms within the same industry, and managers should seek balanced improvement across all three dimensions of profitability, labor productivity and growth rather than optimizing individual indicators in isolation.
Keywords: Composite Index, Firm Performance, Information Technology Firms, SP-Score, Vietnam