Sidebar

Magazine menu

25
T4, 02

Nguyễn Thị Xuân Hòa

Đại học Bách Khoa Hà Nội, Hà Nội, Việt Nam

Nguyễn Phương Anh

Đại học Bách Khoa Hà Nội, Hà Nội, Việt Nam

Ngày nhận: 27/05/2025; Ngày hoàn thành biên tập: 14/10/2025; Ngày duyệt đăng: 04/02/2026

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.052025.1299

Tóm tắt: Nghiên cứu đánh giá tình hình phát triển kinh tế số của khu vực Đông Nam Á và Việt Nam, từ đó xây dựng mô hình dự báo tổng giá trị giao dịch hàng hóa và dịch vụ cho bốn ngành chính: thương mại điện tử, du lịch trực tuyến, vận tải và giao nhận thức ăn, truyền thông trực tuyến. Dữ liệu từ báo cáo e-Conomy SEA của Google, Temasek và Bain & Company được phân tích bằng phương pháp mô tả kết hợp với các mô hình dự báo chuỗi thời gian gồm ARIMA, hồi quy tuyến tính, hồi quy đa thức và liên tiến lũy thừa.  Kết quả cho thấy thương mại điện tử là lĩnh vực dẫn đầu về tăng trưởng tổng giá trị giao dịch hàng hóa và dịch vụ, trong khi du lịch trực tuyến được dự báo phục hồi chậm hơn kỳ vọng. Mô hình hồi quy đa thức cho kết quả chính xác nhất đối với các ngành có xu hướng tăng trưởng phi tuyến, còn ARIMA phù hợp với các ngành có biến động mạnh như du lịch và vận tải công nghệ. Từ đó, bài viết đề xuất định hướng chiến lược cho doanh nghiệp và nhà hoạch định chính sách nhằm tận dụng hiệu quả cơ hội từ nền kinh tế số, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam.

Từ khóa: Kinh tế số, Đông Nam Á, Việt Nam, Tổng giá trị giao dịch hàng hóa và dịch vụ (GMV), Mô hình dự báo

SOUTHEAST ASIA’S DIGITAL ECONOMY: FORECASTING GROWTH TRENDS IN THE GROSS VALUE OF GOODS AND SERVICES IN VIETNAM’S DIGITAL SECTORS 

Abstract: This study aims to assess the development of the digital economy in Southeast Asia and Vietnam, and to construct forecasting models for the gross merchandise value (GMV) across four key sectors: e-commerce, online travel, transportation and food delivery, and online media. Data from the e-Conomy SEA reports published by Google, Temasek, and Bain & Company were analyzed using descriptive statistics in combination with time series forecasting models, including ARIMA, linear regression, polynomial regression, and exponential smoothing. The results indicate that e-commerce is the leading sector in GMV growth, while online travel is projected to recover more slowly than anticipated. Polynomial regression demonstrates the highest accuracy for sectors exhibiting nonlinear growth trends, whereas ARIMA is more suitable for industries with high volatility, such as online travel and tech-enabled transportation. Based on these findings, the study proposes strategic directions for businesses and policymakers to effectively capitalize on opportunities presented by the digital economy and to enhance Vietnam’s competitiveness within the regional context.

Keywords: Digital Economy, Southeast Asia, Vietnam; Gross Merchandise Value (GMV), Forecasting Models

 

Nguyễn Đình Hòa

Trường Đại học Tôn Đức Thắng, TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam

Vũ Bá Thành[1]

Trường Đại học Tôn Đức Thắng, TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam

Phạm Thị Thật

Trường Đại học Tôn Đức Thắng, TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam

Ngày nhận: 13/06/2025; Ngày hoàn thành biên tập: 13/11/2025; Ngày duyệt đăng: 05/02/2026

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.062025.1307

Tóm tắt: Nghiên cứu này xem xét vai trò điều tiết của nhận thức sự hỗ trợ từ cấp trên trong mối quan hệ giữa áp lực công việc và ý định nghỉ việc trả thù của nhân viên Gen Z tại Thành phố Hồ Chí Minh. Dữ liệu thu thập từ 370 nhân viên thuộc ba nhóm ngành có cường độ làm việc cao và tính sáng tạo gồm truyền thông số, quảng cáo và tổ chức sự kiện, thiết kế sáng tạo, được phân tích bằng mô hình phương trình cấu trúc tuyến tính kết hợp Process Macro trên SPSS. Kết quả cho thấy áp lực cản trở làm gia tăng đáng kể ý định nghỉ việc trả thù, trong khi áp lực thử thách không có tác động trực tiếp, phù hợp cách phân biệt hai nhóm áp lực. Đáng chú ý, nhận thức hỗ trợ từ cấp trên điều tiết mối quan hệ này theo hai hướng khác nhau: làm suy yếu tác động của áp lực cản trở nhưng lại khuếch đại nhẹ tác động của áp lực thử thách, trái với giả thuyết đệm truyền thống. Điều này gợi ý hỗ trợ từ cấp trên có thể mang tính hai mặt, vừa là nguồn động viên vừa có nguy cơ trở thành yếu tố gia tăng áp lực khi đi kèm kỳ vọng cao và giám sát chặt chẽ.

  Từ khóa: Áp lực công việc, Nhận thức sự hỗ trợ từ cấp trên, Ý định nghỉ việc trả thù, Nhân viên Gen Z

THE MODERATING ROLE OF PERCEIVED SUPERVISOR SUPPORT IN THE RELATIONSHIP BETWEEN JOB STRESS AND REVENGE TURNOVER INTENTION - A STUDY OF GEN Z EMPLOYEES IN HO CHI MINH CITY

 

Abstract: This study examines the moderating role of perceived supervisor support in the relationship between job stress and revenge turnover intention among Gen Z employees in Ho Chi Minh City. Data were collected from 370 Gen Z employees working in three high intensity and creative sectors, namely digital media, advertising and event management, and creative design, and analyzed using structural equation modeling combined with Process Macro in SPSS. The results show that hindrance related job stress significantly increases revenge turnover intention, whereas challenge related job stress has no direct effect, which is consistent with the distinction between these two forms of job stress. Notably, perceived supervisor support moderates these relationships in two different ways, weakening the effect of hindrance related job stress but slightly amplifying the effect of challenge related job stress, contrary to the traditional buffering hypothesis. These findings suggest that perceived supervisor support can be ambivalent, acting as a motivational resource yet potentially becoming an additional source of pressure when accompanied by high expectations and close monitoring.

Keywords: Job Stress, Perceived Supervisor Support, Revenge Turnover Intention, Gen Z Employees

 

Phạm Thuỷ Tú

Trường Đại học Ngân hàng TP. HCM, TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam

Phạm Anh Thuỷ

Trường Đại học Ngân hàng TP. HCM, TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam

Ngày nhận: 13/08/2025; Ngày hoàn thành biên tập: 23/01/2026; Ngày duyệt đăng: 06/02/2026

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.082025.1328

 

Tóm tắt: Nghiên cứu nhằm đánh giá tác động có điều kiện và không đồng nhất của sự hiện diện ngân hàng nước ngoài đến năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân hàng trong bối cảnh hội nhập tài chính sâu rộng và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ tài chính (Fintech) tại các thị trường mới nổi, cụ thể là Việt Nam. Dữ liệu bảng từ các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2010-2024 được phân tích bằng mô hình hồi quy ngưỡng, hồi quy tương tác, Double Machine Learning và Causal Forests nhằm nhận diện mối quan hệ phi tuyến và khác biệt giữa các nhóm ngân hàng. Kết quả cho thấy tồn tại  ngưỡng tác động rõ ràng, theo đó chỉ khi mức độ hiện diện của ngân hàng nước ngoài vượt một ngưỡng nhất định thì mới  thúc đẩy năng lực cạnh tranh thực chất  trong hệ thống; Fintech đóng vai trò điều tiết quan trọng, có thể  làm suy yếu tác động tích cực  từ sự hiện diện ngân hàng nước ngoài; và hiệu ứng tác động không đồng nhất  giữa các nhóm ngân hàng - trong đó  ngân hàng nhỏ và tư nhân dễ bị tổn thương hơn  so với các ngân hàng lớn hoặc có sở hữu Nhà nước. Từ đó, bài viết góp phần làm rõ thêm lý thuyết về lan tỏa cạnh tranh và đổi mới mang tính phá vỡ trong lĩnh vực ngân hàng, đồng thời cung cấp hàm ý chính sách quan trọng cho quản lý hội nhập tài chính và phát triển hệ sinh thái Fintech theo hướng bền vững, kiểm soát và nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực ngân hàng nội địa.

Từ khóa: Cạnh tranh ngân hàng, Sự hiện diện của ngân hàng nước ngoài, Ngưỡng tác động, Fintech, Bất định vĩ mô

THRESHOLD EFFECTS AND THE MODERATING ROLE OF FINTECH IN THE RELATIONSHIP BETWEEN FOREIGN BANK PRESENCE AND COMPETITION UNDER MACROECONOMIC UNCERTAINTY IN VIETNAM

Abstract: This study aims to assess the conditional and heterogeneous effects of foreign bank presence on the competitiveness of the banking system in the context of deep financial integration and the rapid development of financial technology (Fintech) in emerging markets, with Vietnam as a specific case. Panel data from Vietnamese commercial banks over the period 2010–2024 are analyzed using threshold regression models, interaction regressions, Double Machine Learning, and Causal Forests to identify nonlinear relationships and differences across bank groups. The results reveal the existence of a clear impact threshold; whereby foreign bank presence enhances substantive competitiveness within the banking system only after surpassing a certain level. Fintech plays a significant moderating role, potentially weakening the positive effects of foreign bank presence. Moreover, the effects are heterogeneous across bank groups, with smaller and privately owned banks being more vulnerable than larger banks or those with state ownership. The study thus contributes to the literature by further elucidating theories of competitive spillovers and disruptive innovation in the banking sector, while also offering important policy implications for managing financial integration and developing a sustainable, well-regulated Fintech ecosystem that enhances the competitiveness of the domestic banking sector.

Keywords: Bank Competition, Foreign Bank Presence, Threshold Effects, Fintech, Macroeconomic Uncertainty

 

Lê Hoàng Vinh

Trường Đại học Kinh tế - Tài chính Thành phố Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam

Phạm Văn Duy

Trường Đại học Kinh tế - Tài chính Thành phố Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam

 

Ngày nhận: 14/09/2025; Ngày hoàn thành biên tập: 05/01/2026; Ngày duyệt đăng: 10/02/2026

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.092025.1343

 

Tóm tắt: Nghiên cứu khám phá vai trò điều tiết của dòng tiền hoạt động kinh doanh đối với tác động của đòn bẩy tài chính đến kiệt quệ tài chính cho trường trường hợp các công ty phi tài chính niêm yết Việt Nam. Dữ liệu từ 4.130 quan sát của 413 công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh và Hà Nội giai đoạn 2015-2024 được phân tích bằng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua mô hình bình phương tối thiểu tổng quát. Kết quả cho thấy kiệt quệ tài chính được giải thích cùng chiều bởi đòn bẩy tài chính nhưng ngược chiều bởi dòng tiền hoạt động kinh doanh và dòng tiền hoạt động kinh doanh đóng vai trò điều tiết tác động của đòn bẩy tài chính đến kiệt quệ tài chính. Từ đó, các bằng chứng thực nghiệm của bài viết cung cấp thông tin hữu ích cho nhà quản lý công ty trong việc đưa ra quyết định mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính, mà còn chỉ dẫn cho các chủ thể về sự cần thiết của việc nhận diện và đánh giá khả năng trả nợ gốc và lãi đối với các công ty có đòn bẩy tài chính gắn với khả năng tạo tiền từ hoạt động cốt lõi của họ.

Từ khóa: Dòng tiền hoạt động kinh doanh, Đòn bẩy tài chính, Kiệt quệ tài chính

 

IMPACT OF FINANCIAL LEVERAGE ON FINANCIAL DISTRESS AT VIETNAMESE LISTED NON-FINANCIAL FIRMS: THE MODERATING ROLE OF OPERATING CASH FLOWS

 

Abstract: The study investigates the moderating role of operating cash flows in the relationship between financial leverage and financial distress in the context of non-financial listed firms in Vietnam. Data from 4,130 observations of 413 firms listed on the Ho Chi Minh City Stock Exchange and the Hanoi Stock Exchange over the period 2015–2024 are analyzed using a quantitative research approach with the Generalized Least Squares (GLS) model. The results indicate that financial distress is positively explained by financial leverage but negatively associated with operating cash flows, and that operating cash flows play a moderating role in the impact of financial leverage on financial distress. Accordingly, the empirical evidence of this study provides useful insights for corporate managers in making decisions regarding the appropriate level of financial leverage, while also offering guidance to stakeholders on the importance of identifying and assessing debt repayment capacity—both principal and interest—of firms whose financial leverage is closely linked to their ability to generate cash from core operating activities.

Key words: Operating Cash Flows, Financial Leverage, Financial Distress

 

Trần Phương Trinh

Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam

Đào Thị Thương

Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam

Ngày nhận: 19/05/2025; Ngày hoàn thành biên tập: 12/09/2025; Ngày duyệt đăng: 02/02/2026

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.052025.1296

Tóm tắt: Nghiên cứu phân tích mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR) và mức độ trung thành của khách hàng ở Hà Nội trong lĩnh vực sản xuất chất tẩy rửa tập trung vào bốn khía cạnh chính của CSR là trách nhiệm về kinh tế, pháp lý, đạo đức và xã hội, từ đó xem xét mức độ ảnh hưởng đến sự trung thành của người tiêu dùng đối với các doanh nghiệp. Dữ liệu từ 196 khách hàng ở Hà Nội đã và đang sử dụng sản phẩm tẩy rửa của các doanh nghiệp sản xuất được phân tích thông qua mô hình cấu trúc tuyến tính (PLS-SEM). Kết quả cho thấy CSR có ảnh hưởng tích cực đến lòng trung thành, trong đó sự hài lòng của khách hàng đóng vai trò trung gian. Từ đó, bài viết đề xuất một số hàm ý nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả thực hiện CSR, đồng thời củng cố mối quan hệ với khách hàng.

Từ khóa: Doanh nghiệp sản xuất, Lòng trung thành của khách hàng, Sự hài lòng của khách hàng, Tiêu dùng bền vững, Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp

THE IMPACT OF CSR ON CUSTOMER LOYALTY  IN DETERGENT MANUFACTURING ENTERPRISES IN HANOI

Abstract:  The study analyzes the impact of corporate social responsibility and customer loyalty in Hanoi in the detergent chemicals manufacturing industry, focusing on four main aspects of CSR, including economic, legal, ethical and philanthropic responsibilities. The aim is to assess how these aspects influence consumer loyalty toward manufacturing businesses. Data from 196 customers in Hanoi who have used or are currently using detergent products from manufacturing companies were analyzed using PLS-SEM. The results show that CSR has a positive impact on customer loyalty, with customer satisfaction playing a mediating role. Based on these findings, the study proposes several implications to help businesses enhance the effectiveness of CSR implementation and strengthen customer relationships.

Keywords: Manufacturing Enterprises, Customer Loyalty, Customer Satisfaction, Sustainable Consumption, Corporate Social Responsibility

 

Nguyễn Hoàng Chung

Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam

Ngày nhận: 31/05/2025; Ngày hoàn thành biên tập: 19/09/2025; Ngày duyệt đăng: 05/02/2026

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.052025.1301

 

Tóm tắt: Nghiên cứu nhằm đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam. Dữ liệu bảng gồm 351 quan sát từ 27 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2010-2022 được phân tích bằng phương pháp hồi quy GMM cấu trúc (SGMM) và Bayesian để ước lượng lại mô hình. Kết quả cho thấy ngoại trừ biến Covid-19 và lãi suất chính sách, các yếu tố vĩ mô và đặc thù ngân hàng thương mại đều ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại được đại diện bởi ROA, ROE, và NIM. Quy mô, vốn chủ sở hữu, tăng trưởng kinh tế và lạm phát có tác động tích cực đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại. Trong khi đó, tỷ lệ tiền gửi, cấu trúc sở hữu có tác động nghịch biến. Ngoài ra, chi phí hoạt động, đa dạng hóa, rủi ro tín dụng có tác động đa chiều đến khả năng sinh lời. Từ đó, bài viết đưa ra hàm ý cho các ngân hàng thương mại về việc áp dụng các giải pháp hiệu quả khi sử dụng nguồn vốn huy động, quản lý chi phí và tận dụng lợi thế về quy mô để nâng cao khả năng sinh lời.

Từ khóa: Khả năng sinh lời ngân hàng, Ngân hàng thương mại, Rủi ro tín dụng, Đa dạng hóa thu nhập SGMM, Bayesian, Việt Nam

DETERMINANTS OF BANK PROFITABILITY: AN EMPIRICAL ANALYSIS WITH EXTENDED ECONOMETRIC TECHNIQUES

Abstract: The study aims to evaluate the factors influencing the profitability of Vietnamese commercial banks. Panel data comprising 351 observations from 27 commercial banks in Vietnam during the period 2010-2022 were analyzed using the system generalized method of moments (SGMM) and Bayesian estimation techniques. The results indicate that, except for the variables Covid-19 and policy interest rate, both macroeconomic factors and bank-specific characteristics significantly affect the profitability of commercial banks, as represented by ROA, ROE, and NIM. Bank size, equity capital, economic growth, and inflation exert a positive impact on profitability, whereas deposit ratio and ownership structure have a negative effect. In addition, operating costs, diversification, and credit risk exhibit multidimensional impacts on bank profitability. Based on these findings, the paper provides several implications for commercial banks regarding the effective use of mobilized capital, cost management, and leveraging economies of scale to enhance profitability.

Keywords: Bank Profitability, Commercial Banks, Credit Risk, Income Diversification, SGMM, Bayesian, Vietnam

 

[1] Tác giả liên hệ, Email: Địa chỉ email này đang được bảo vệ từ spam bots. Bạn cần bật JavaScript để xem nó.

Vương Thị Hương Giang

Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam

Phan Ngọc Phương Trang

Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam

 

Ngày nhận: 18/05/2025; Ngày hoàn thành biên tập: 18/11/2025; Ngày duyệt đăng: 02/02/2026

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.052025.1294

 

Tóm tắt: Biến đổi khí hậu đã và đang đặt ra những thách thức nghiêm trọng đối với sự ổn định tài chính của các doanh nghiệp, đặc biệt là trong ngành Nông nghiệp - lĩnh vực chịu ảnh hưởng lớn từ điều kiện thời tiết và thiên tai. Bài viết phân tích tác động của rủi ro biến đổi khí hậu đến sự ổn định tài chính của các doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam trong giai đoạn 2009-2024. Dữ liệu bảng của 73 doanh nghiệp Nông nghiệp Việt Nam được phân tích bằng phương pháp ước lượng tổng quát hóa hệ thống khoảnh khắc. Kết quả chỉ ra rủi ro khí hậu có tác động ngược chiều đến sự ổn định của các doanh nghiệp trong ngành Nông nghiệp Việt Nam, nghĩa là khi rủi ro khí hậu gia tăng, khả năng duy trì sự ổn định tài chính của doanh nghiệp trong ngành này suy giảm đáng kể. Những phát hiện này mang ý nghĩa quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách và nhà quản lý doanh nghiệp trong lĩnh vực quan trọng tại Việt Nam.

Từ khóa: Rủi ro biến đổi khí hậu, Ổn định tài chính, Doanh nghiệp, Nông nghiệp, Việt Nam

 

ASSESSING THE IMPACT OF CLIMATE CHANGE RISK ON THE FINANCIAL STABILITY OF VIETNAMESE AGRICULTURAL ENTERPRISES

Abstract: Climate change has posed serious challenges to the financial stability of enterprises, especially in the agricultural sector, which is heavily affected by weather conditions and natural disasters. This study analyzes the impact of climate change risks on the financial stability of agricultural enterprises in Vietnam during the period 2009-2024. Panel data of 73 Vietnamese agricultural companies is analyzed by the system generalized method of moments (GMM) estimation. The results indicate that climate risk has an inverse impact on the stability of enterprises in Vietnam's agricultural sector, implying that as climate risks increase, the sector's ability to maintain financial stability significantly decreases. The study's findings have significant implications for policy and business managers in this crucial sector in Vietnam.

Keywords: Climate Change Risk, Financial Stability, Enterprises, Agriculture, Vietnam


 

Các bài khác...