Sidebar

Magazine menu

24
T2, 06

Lê Quốc Văn

Viện Thiết kế tàu quân sự, Hà Nội, Việt Nam

Nguyễn Văn Minh

Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam

Ngày nhận: 19/03/2024; Ngày hoàn thành biên tập: 20/05/2024; Ngày duyệt đăng: 27/05/2024

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.032024.1129

 

Tóm tắt

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tìm hiểu và đề xuất các giải pháp để xây dựng mô hình hệ sinh thái đổi mới sáng tạo mở để phát triển hợp tác giữa Viện Thiết kế tàu quân sự với các đối tác. Bài viết sử dụng cách tiếp cận nghiên cứu tình huống thông qua 01 đơn vị điển hình, cụ thể là Viện Thiết kế tàu quân sự và dùng thực chứng để kiểm tra lại các kết quả nghiên cứu. Bài viết làm rõ các giai đoạn, các hình thức gắn với những đặc trưng cơ bản của hoạt động đổi mới sáng tạo; bộ tiêu chí và phương pháp để đánh giá thực trạng hoạt động đổi mới sáng tạo trong một tổ chức. Nghiên cứu cũng nhận diện một số vấn đề cần phải tháo gỡ để thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo tại Viện Thiết kế tàu quân sự, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp phù hợp với đặc điểm của đơn vị và có tính khả thi để phát triển hợp tác giữa Viện Thiết kế tàu quân sự với các đối tác thông qua mô hình hệ sinh thái đổi mới sáng tạo mở. Nghiên cứu này là tài liệu tham khảo hữuích cho các cơ quan quản lý ngành, các viện nghiên cứu, doanh nghiệp có liên quan tới các hoạt động nghiên cứu và cung cấp dịch vụ khoa học công nghệ hoặc nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành quản trị kinh doanh.

Từ khóa: Khoa học công nghệ, Mô hình, Đổi mới sáng tạo, Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo mở

 

RESEARCH TO BUILD AN OPEN INNOVATION ECOSYSTEM MODEL TO DEVELOP COOPERATION

BETWEEN MILITARY SHIP DESIGN INSTITUTE AND PARTNERS

 

Abstract

This research aims to study and propose solutions to build an open innovation ecosystem model in order to develop cooperation between the Military Ship Design Institute and its partners. Using a case study of the Military Ship Design Institute and evidence to verify the research results, the research clarifies the stages and forms associated with the basic characteristics of innovation activities; a set of criteria and methods to evaluate the current status of innovation activities in an organization. This study also identifies some problems that need to be resolved to promote innovation activities at the Military Ship Design Institute and is based on these findings to propose a number of solutions that are suitable to the characteristics of the organization and feasible to develop cooperation between the Military Ship Design Institute and its partners through the open innovation ecosystem model. This paper may be useful to industry management agencies, research institutes, companies involved in research activities and provision of science and technology services or graduate students and master students in the field of business administration.

Keywords: Science and Technology, Model, Innovation, Open Innovation Ecosystem

 

 

Trần Ngọc Mai

Học viện Ngân hàng, Hà Nội, Việt Nam

Ngày nhận: 11/03/2024; Ngày hoàn thành biên tập: 27/05/2024; Ngày duyệt đăng: 31/05/2024

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.032024.1128

 

Tóm tắt

Bài viết này phân tích vai trò ngày càng lớn mạnh của Việt Nam trong Cộng đồng Kinh tế ASEAN bằng cách tính toán và phân tích các chỉ số thương mại như lợi thế so sánh bộc lộ, cường độ thương mại, bổ sung thương mại và tiềm năng thương mại từ năm 2003 đến 2021. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng Việt Nam có lợi thế cạnh tranh bền vững trong một số ngành hàng như ngũ cốc (mã HS 10), có lợi thế cạnh tranh giảm sút tại ngành hàng như nhiên liệu khoáng (mã HS 27) và lợi thế cạnh tranh cải thiện trong ngành hàng sắt và thép (mã HS 72, 73). Nghiên cứu làm sáng tỏ mối quan hệ thương mại của Việt Nam trong tương quan với các nước ASEAN, từ đó chỉ ra tiềm năng thương mại đầy hứa hẹn trong các ngành hàng như máy móc điện (mã HS 85). Những hạn chế trong vấn đề hợp tác giữa Việt Nam và các quốc gia ASEAN được làm nổi bật bằng cách đánh giá chỉ số bổ sung thương mại mại, tạo cơ sở để tái xây dựng các hiệp định thương mại. Bài viết đưa ra các khuyến nghị nhằm tăng cường ảnh hưởng kinh tế khu vực của Việt Nam thông qua các chiến lược xuất khẩu tập trung vào lợi thế cạnh tranh quốc gia, đa dạng hóa và tăng cường quan hệ song phương. Kết quả nghiên cứu này cung cấp nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách và các bên liên quan trong việc định hình vai trò đang phát triển của Việt Nam trong khu vực kinh tế ASEAN.

Từ khóa: Cộng đồng Kinh tế ASEAN, Việt Nam, Thương mại, Lợi thế so sánh bộc lộ, Cường độ Thương mại, Bổ sung Thương mại, Tiềm năng Thương mại

 

VIETNAM'S ROLE IN THE ASEAN ECONOMIC COMMUNITY: A TRADE ANALYSIS

 

Abstract

This paper analyzes Vietnam's evolving role in the ASEAN Economic Community by investigating its trade indices such as revealed comparative advantage, trade intensity, trade complementarity, and trade potential from 2003 to 2021. The study emphasizes Vietnam's sustainable competitive advantage in certain sectors like cereal (HS code 10), identifies eroding areas like mineral fuels (HS code 27) and areas with improving competitive advantage like iron and steel (HS code 72, 73). It also explores Vietnam's trade relationships with ASEAN countries, uncovering promising trade potential in categories like electrical machinery (HS code 85). The research highlights the limited synergy between Vietnam and ASEAN nations by assessing trade complementarity, urging for strategic reevaluation of trade agreements. Recommendations are suggested for enhancing Vietnam's regional economic influence through tailored export strategies focusing on national competitive advantage, diversification, and strengthening bilateral relations. This analysis serves as a critical resource for policymakers and stakeholders in navigating Vietnam's burgeoning role in the ASEAN economic sphere.

Keywords: ASEAN Economic Community, Vietnam, Trade, Revealed Comparative Advantage, Trade Intensity, Trade Complementarity, Trade Potential

 

 

Trịnh Hà Vy

Ngân hàng Quân đội MBBank, Hà Nội, Việt Nam

Đặng Quỳnh Như

Học viện Chính sách và Phát triển, Hà Nội, Việt Nam

Nguyễn Minh Phúc

Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam

 

Ngày nhận: 20/06/2023; Ngày hoàn thành biên tập: 27/03/2024; Ngày duyệt đăng: 05/05/2024

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.062023.1070

 

Tóm tắt

Bài viết nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ vận chuyển hàng hóa qua nền tảng trực tuyến cho các đơn hàng nội thành của người tiêu dùng tại Hà Nội. Mẫu nghiên cứu là 369 người dùng trên địa bàn Hà Nội. Kết quả phân tích mô hình cấu trúc và phân tích hồi quy cho thấy có 7 yếu tố bao gồm: hiệu quả kỳ vọng, nỗ lực kỳ vọng, ảnh hưởng xã hội, điều kiện thuận lợi, định hướng tiết kiệm, nhận thức rủi ro và chất lượng thông tin ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ vận chuyển trực tuyến của người dùng tại Hà Nội. Bên cạnh đó, không có đủ bằng chứng để kết luận về mối quan hệ giữa yếu tố thói quen và quyết định sử dụng dịch vụ. Kết quả nghiên cứu này bổ sung vào cơ sở lý thuyết về hành vi người dùng nói chung, cũng như cung cấp các bằng chứng thực nghiệm quan trọng về mối quan hệ này.

Từ khóa: Giao hàng chặng cuối, Nội thành, Nguồn lực cộng đồng, Hành vi người dùng, Hà Nội

 

FACTORS AFFECTING THE DECISION OF EMPLOYING CROWD SHIPPING SERVICES FOR INTRACITY DELIVERIES:

AN EMPIRICAL RESEARCH IN HANOI

Abstract

The article studies the factors affecting the decision to use online crowshipping services for intracity deliveries in Hanoi, using a quantitative research method with structural modeling and regression analysis. Data were collected from 369 users in Hanoi. Structural equation modeling and regression analysis results show that there are six factors that have a positive impact on this decision: performance expectancy, effort expectancy, social influence, facilitating conditions, price saving orientation, habit, perceived of risk, information quality. There is insufficient evidence regarding the relationship between habit and the decision to use such service. The findings contribute to the knowledge on consumer behavior and provide important evidence on the factors affecting the decision of using crowshiping.

Keywords: Last-Mile Delivery, Intracity Delivery, Crowd Logistics, Customer Behavior, Hanoi

 

 

Nguyễn Thị Thanh

Trường Đại học Thương mại, Hà Nội, Việt Nam

Nguyễn Đắc Thành

Trường Đại học Thương mại, Hà Nội, Việt Nam

Ngày nhận: 08/03/2023; Ngày hoàn thành biên tập: 02/05/2024; Ngày duyệt đăng: 17/05/2024

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.032023.1053

 

Tóm tắt

Bài viết nghiên cứu tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và độ mở thương mại tới tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Dữ liệu được trích xuất từ cơ sở dữ liệu của Ngân hàng thế giới World Bank trong giai đoạn 37 năm từ 1986 đến 2022, và sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu chuỗi thời gian ARDL với biến trễ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhìn chung FDI có tác động tích cực tới các chỉ số phản ánh tăng trưởng kinh tế (tốc độ tăng trưởng, GDP thực tế, GDP bình quân đầu người) cả trong ngắn hạn và dài hạn; trong khi đó, độ mở thương mại chỉ ghi nhận tác động tích cực lên GDP thực tế, nhưng tác động tiêu cực lên GDP bình quân đầu người và tốc độ tăng trưởng trong dài hạn. Kết quả hàm ý rằng việc lựa chọn biến phụ thuộc đại diện cho tăng trưởng kinh tế có ảnh hưởng tới mức độ và chiều tác động của FDI và độ mở thương mại. Dựa vào kết quả nghiên cứu, một số hàm ý chính sách được đưa ra nhằm tăng cường khả năng đóng góp của FDI và thương mại tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam.

Từ khóa: Đầu tư trực tiếp nước ngoài, GDP, Độ mở thương mại, Tốc độ tăng trưởng kinh tế, Thu nhập bình quân đầu người.

 

THE IMPACT OF FDI AND TRADE OPENNESS ON VIETNAM'S ECONOMIC GROWTH: EVIDENCE FROM THE ARDL APPROACH

 

Abstract

The article studies the impact of foreign direct investment (FDI) and trade openness on Vietnam's economic growth. Data were extracted from the World Bank database for the period of 37 years from 1986 to 2022 and using ARDL time series data analysis method with lagged variables. Research results show that, in general, FDI has a positive impact on indicators reflecting economic growth (growth rate, real GDP, GDP per capita) in both the long run and short run; Meanwhile, trade openness only recorded a positive impact on real GDP, but a negative impact on GDP per capita and growth rate in the long run. The results imply that the choice of the dependent variable representing economic growth affects the level and direction of the impact of FDI and trade openness. Based on the research results, some policy implications are given to enhance the contribution of FDI and trade to Vietnam's economic growth.

Keywords: Foreign Direct Investment, GDP, Trade Openness, Economic Growth, GDP Per Capita.

 

 

Phan Hương Giang

Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam

Chu Thị Mai Anh

Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam

Hoàng Thị Tố Anh

Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam

Chu Thị Mai Phương

Trường Đại học Ngoại Thương, Hà Nội, Việt Nam

Ngày nhận: 22/01/2024; Ngày hoàn thành biên tập: 19/4/2024; Ngày duyệt đăng: 26/4/2024

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.012024.1112

 

Tóm tắt

Sự tích hợp và phát triển nhanh chóng của Công nghệ Thông tin và Truyền thông đã tạo ra sự cách mạng hóa hoạt động kinh doanh trong nhiều ngành công nghiệp khác nhau trong nền kinh tế. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến chế tạo là ngành có mức độ ứng dụng Công nghệ Thông tin và Truyền thông lớn. Bài viết này nghiên cứu tác động của việc ứng dụng Công nghệ Thông tin và Truyền thống đến chất lượng môi trường như chất lượng không khí, nước cũng như mức độ cam kết bảo vệ môi trường của doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo. Bằng cách sử dụng dữ liệu của hơn 1000 doanh nghiệp tại Việt Nam trong năm 2018, kết quả phân tích hồi quy cho biết, ở giai đoạn đầu ứng dụng Công nghệ Thông tin và Truyền thông khiến chất lượng môi trường đi xuống. Tuy nhiên, trong dài hạn chất lượng môi trường lại được cải thiện (hình chữ U). Kết quả nghiên cứu thực nghiệm là bằng chứng khoa học để doanh nghiệp tăng cường ứng dụng tiến bộ công nghệ giúp cải thiện chất lượng môi trường, hướng đến phát triển bền vững.

Từ khóa: Công nghệ Thông tin và Truyền thông, Môi trường, Chế biến chế tạo, Doanh nghiệp, Việt Nam

 

IMPACTS OF INFORMATION AND COMMUNICATION TECHNOLOGY APPLICATIONS ON THE ENVIRONMENT

IN MANUFACTURING FIRMS IN VIETNAM

 

Abstract

The rapid integration and development of information technology and communication have revolutionized business operations across various industries in the economy. Particularly,  the manufacturing industry is one of the high-leveled applications of information technology and communication. This study investigates the significant impact of information technology and communication on environmental quality such as air quality, water quality as well as the level of commitment to environmental protection of manufacturing enterprises. Using the data collected from over 1000 businesses in Vietnam in 2018, the regression analysis results show that in the first phases, information technology and communication application diminishes the environmental quality. However, in the long-run, the natural state will be improved (the U shape). Empirical research results are solid scientific evidence for businesses to increasingly apply information technology and communication advances to help improve environmental quality, aiming for sustainable development.

Keywords: Information and Communication Technology, Environment, Manufacturing, Firms, Vietnam

 

 

Nguyễn Thị Lâm Anh

Học viện Ngân hàng, Hà Nội, Việt Nam

Bùi Linh Đan

Học viện Ngân hàng, Hà Nội, Việt Nam

Nguyễn Hương Giang

Học viện Ngân hàng, Hà Nội, Việt Nam

Nguyễn Thị Mai Hoa

Học viện Ngân hàng, Hà Nội, Việt Nam

Ngày nhận: 24/05/2023; Ngày hoàn thành biên tập: 07/05/2024; Ngày duyệt đăng: 27/05/2024

DOI: https://doi.org/10.38203/jiem.vi.052023.1065

 

Tóm tắt

Hoạt động đầu tư năng lượng tái tạo ngày càng được các nước trên thế giới quan tâm, đặc biệt là các nước phát triển, vì lợi ích của nó không chỉ giúp cải thiện chất lượng môi trường, mà còn kích thích xây dựng phát triển nền kinh tế bền vững. Bài viết này tập trung nghiên cứu về các nhân tố tác động đến quyết định của các nhà đầu tư năng lượng tái tạo để từ đó đưa ra giải pháp thu hút vốn đầu tư. Bài viết sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng được thu thập từ 37 quốc gia Liên minh Châu Âu (EU) và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) từ năm 2007 đến 2021. Kết quả nghiên cứu cho thấy cho thấy chi cho nghiên cứu và phát triển, tiêu thụ năng lượng có tác động tích cực đến quyết định của các nhà đầu tư năng lượng tái tạo. Ngược lại, phát thải CO2 và chính sách tái tạo có mối quan hệ ngược chiều với quyết định của các nhà đầu tư. Ngoài ra, GDP bình quân đầu người không ảnh hưởng đến quyết định đầu tư. Dựa trên kết quả, nhóm đã giả đã đưa ra một số khuyến nghị giúp đẩy mạnh hoạt động đầu tư năng lượng tái tạo, góp phần phát triển kinh tế bền vững tại các quốc gia EU và ASEAN

Từ khóa: Chính sách tái tạo, Năng lượng tái tạo, Nhà đầu tư năng lượng tái tạo, Phát triển bền vững, Quyết định đầu tư

 

FACTORS AFFECTING THE DECISION OF RENEWABLE ENERGY INVESTORS: EVIDENCE FROM EU AND ASEAN COUNTRIES

 

Abstract

             Investments in renewable energy have attracted increasing attention from countries around the world, especially developed ones. This is because of its dual benefits in improving environmental quality and promoting sustainable economic development. This study focuses on researching the factors affecting the decision-making of renewable energy investors to provide solutions for attracting investment capital.  The article used the panel data regression method with data collected from 37 countries in the European Union (EU) and the Association of Southeast Asian Nations (ASEAN) from 2007 to 2021. The regression results indicate that research and development expenditures and energy consumption have positive impacts on the decision-making of renewable energy investors. Conversely, CO2 emissions and renewable energy policies have an inverse relationship with the investment decisions. Additionally,  GDP per capita is found to have no significant effect on investment decisions. Based on the results, the authors provide appropriate recommendations to help promote investments in renewable energy, contributing to sustainable economic development in EU and ASEAN countries.

Keywords: Renewable Energy Policy, Renewable Energy, Renewable Energy Investor, Sustainable Development, Investment Decision