Tạp chí KTĐN số 84

CHÍNH SÁCH LIÊN QUAN ĐẾN LAO ĐỘNG TẠI HIỆP HỘI CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á

CHÍNH SÁCH LIÊN QUAN ĐẾN LAO ĐỘNG TẠI HIỆP HỘI CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á

Trần Thị Ngọc Quyên[1]

Nguyễn Hải Ninh[2]

                                                                                                             

Tóm tắt

Chính sách liên quan đến lao động, cụ thể là phát triển nguồn nhân lực và tự do di chuyển lao động  là một vấn đề trọng tâm mà chính phủ các nước đang phải đối mặt. Nó là tiền đề các quốc gia tham gia sâu rộng hơn vào thị trường lao động khu vực, cũng như toàn cầu, đồng thời là động lực quan trọng đối với phát triển bền vững. Thời gian qua, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á - ASEAN (Association of South East Asia Nations) luôn được đánh giá là một khu vực kinh tế năng động với nỗ lực triển khai các cam kết hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng. Trong phạm vi bài viế, tác giả sẽ phân tích một số quy định cụ thể mà chính phủ các nước ASEAN đang triển khai liên quan đến lao động để minh chứng cho điều này.

Từ khóa: ASEAN, chính sách, lao động.

Abstract

Labor policies regarding the human development and liberalization of the labor movement has seen as the key factor that governments are solving with. It is actually the fundamental element to promote all countries to deeper take part in labor market in the world. In additions, it is the important driven in the process towards the sustainable development. In fact, the Association of South East Asian Nations (ASEAN) has been regarded recently as the dynamic region with the efforts of following the commitments of economic integration. In this paper, to identify this aspect, the authors will focus on the specific regulations of the ASEAN’s governments relating to labor issue.

Keywords: ASEAN, policies, labor.

 

  1. Tổng quan về vấn đề lao động tại ASEAN

Hiện nay, phát triển kinh tế của 10 nước thành viên ASEAN ảnh hưởng từ nhiều yếu tố, trong đó phải kể đến vấn đề trọng tâm đó chính là tiến trình hội nhập kinh tế sâu rộng của khu vực. Thời gian qua, các quốc gia đều đã và đang nỗ lực triển khai chương trình cụ thể, trong đó cam kết khu vực đóng vai trò quan trọng. ASEAN đã có nhiều Hiệp định liên quan đến thuận lợi hóa lĩnh vực dịch vụ và di chuyển lao động trong khu vực, trong đó các cam kết trong khuôn khổ AEC tập trung vào 4 trụ cột, đó là một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất, một khu vực kinh tế cạnh tranh, phát triển kinh tế công bằng và hội nhập kinh tế toàn cầu. (ASEAN Secretariat) Như vậy, tự do hóa hay tạo thuận lợi trong dịch vụ với di chuyển nguồn nhân lực chất lượng cao là một động lực quan trọng cho quá trình phát triển của ASEAN.

Theo Báo cáo lương toàn cầu của ILO, đã chỉ ra rằng mức lương tại các quốc gia thuộc khu vực châu Á-Thái Bình Dương tăng lên gấp 2,5 lần từ đầu thế kỷ này. Tại nhiều quốc gia, đã có chuyển dịch kinh tế năng động hơn với thu nhập và mức sống cao hơn. Điều này cho thấy và đòi hỏi chính phủ từng nước luôn có sự điều chỉnh năng động trong các quy định liên quan đến lao động theo hướng hội nhập mở. Hơn nữa, hiện tại, thách thức lớn nhất mà các quốc gia phải đối mặt chính là gia tăng độ tuổi của dân cư, đặc biệt đối với Inđônêxia, Thái Lan và Việt Nam. Đây là những quốc gia có có tốc độ già hóa dân số nhanh (World Bank, 2015)[3]. Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) chỉ khoảng 7,8 triệu người trẻ hay 14% lực lượng lao động trẻ được tuyển dụng. Thất nghiệp ở độ tuổi trẻ chiếm tỷ lệ cao tại Brunei, Inđônêxia và Philippin. Đồng thời, chất lượng nguồn nhân lực tại ASEAN còn chưa cao và giữa các nước vẫn có khoảng cách nhất định về nguồn lao động. Nhiều quốc gia, yếu tố nhân công không còn là lợi thế cạnh tranh, ví dụ như Thái Lan, Việt Nam. Trong khi đó, chất lượng nguồn lao động còn thấp, kỹ năng làm việc chưa chuyên nghiệp. Bên cạnh đó, giới trẻ ASEAN có trình độ học vấn thấp thường tìm cho họ nghề nghiệp có kỹ năng thấp ở những khu vực có năng suất lao động thấp như nông nghiệp. Trong khi đó, hàng triệu lao động trẻ được đào tạo với trình độ cao rời trường học và tham gia vào lực lượng lao động với trình độ mà không phù hợp với nhu cầu của người tuyển dụng.[4]

Các chính phủ tại ASEAN cũng biết cần phải phản ứng với những thách thức đó như thế nào. Bước khởi đầu chính thức AEC và sự mở rộng mong chờ của TPP sẽ tăng cường cạnh tranh trong thị trường lao động. Nếu không có giáo dục tốt hơn và lao động có năng suất hơn thì ASEAN sẽ có rủi ro trong quá trình tăng trưởng (Bangkok Post, 2015). Bên cạnh đó, là hàng loạt các hiệp định khác nữa, cu thể như RCEP với vòng đàm phán cuối cùng vào tháng 12/2016.

  1. Chính sách phát triển nguồn nhân lực tại các nước thành viên

            Thực tế, các quốc gia tại khu vực đều có chính sách tổng thể phát triển nguồn nhân lực phù hợp với hướng ưu tiên phát triển của nền kinh tế.

Tại Thái Lan, hiện nay chính phủ tập trung mở rộng đào tạo  nghề và kỹ năng  và kết hợp các chương trình học với những kinh nghiệm công việc thực tế để đảm bảo tương thích với giáo dục. Những nỗ lực cũng được triển khai nhằm thống nhất tiêu chuẩn mang tính cạnh tranh và hoàn thiện kế hoạch phát triển nguồn nhân lực quốc gia. Hơn nữa, chính phủ cũng đưa ra hướng dẫn cụ thể tiêu chuẩn của hơn 100 nghề nghiệp, ý tưởng để cho người lao động làm việc trong nhiều năm này có thể có được chứng chỉ hoặc được đào tạo bổ sung để có thể thích ứng nhanh chóng với công việc thực tiễn. Trong những năm vừa qua, khu vực tư nhân của nước này đã bắt đầu liên hệ chặt chẽ với các cơ quan chính phủ để nâng cao chất lượng của lao động, cụ thể là Cục phát triển kỹ năng Department of Skill Development.

Trong khi đó, tại Inđônêxia chính phủ đang thúc đẩy đào tạo cơ bản cho lực lượng lao động ở các trường dạy nghề và kỹ năng trình độ cao phải theo kịp với đào tạo nghề cơ bản đảm bảo chất lượng. Bên cạnh đó, các chương trình tạo gắn kết giữa các cơ sở đào tạo và các ngành, mở rộng các lĩnh vực đào tạo thực tiễn cho sinh viên. Lĩnh vực dịch vụ đạt tốc độ phát triển nhanh và có đóng góp vào GDP, nhưng quốc gia này đang phải đối mặt với sự thiếu hụt lao động chất lượng trong lĩnh vực quản lý và điều hành.

Tại Malayxia, các trường đại học công và tư đang là các cơ sở đào tạo và cung cấp chính của nước này. Mặc dù có hệ thống giáo dục và đào tạo tốt, chính phủ cũng có những lo lắng về đầu ra, đặc biệt là liên quan đến năng lực và cơ hội việc làm trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Quốc gia này cũng đang theo đuổi hai chiến lược tăng trưởng kinh tế đó là hướng đến lĩnh vực dịch vụ có trình độ cao và chuyển đổi từ ngành công nghiệp dựa vào lao động giản đơn sang lao động có kỹ năng. Hoạt động giáo dục tập trung là 01 trong 12 nhóm