Tạp chí KTĐN số 84

THỰC TIỄN SỬ DỤNG HỢP ĐỒNG CÀ PHÊ CHÂU ÂU VÀ LƯU Ý CHO DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

THỰC TIỄN SỬ DỤNG HỢP ĐỒNG CÀ PHÊ CHÂU ÂU VÀ LƯU Ý CHO DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Nguyễn Minh Hằng

Tóm tắt
Hiện nay, trong các hợp đồng xuất khẩu cà phê của Việt Nam và các đối tác nước ngoài thường dẫn chiếu đến các hợp đồng mẫu của các hiệp hội, liên đoàn cà phê lớn trên thế giới. Việc không hiểu rõ hoặc chấp nhận toàn bộ nội dung của các hợp đồng mẫu này có thể dẫn tới thua thiệt cho doanh nghiệp Việt Nam. Bài viết phân tích một số nội dung của Hợp đồng cà phê Châu Âu (European Contract for Coffee - ECC) năm 2002 cũng như thực tiễn sử dụng ECC tại Việt Nam (thông qua thu thập, nghiên cứu và phân tích 13 hợp đồng xuất khẩu cà phê theo ECC), từ đó đưa ra một số lưu ý cho doanh nghiệp Việt Nam trong việc soạn thảo và thực hiện hợp đồng xuất khẩu cà phê.
Từ khóa: Xuất khẩu cà phê; hợp đồng cà phê Châu Âu; hợp đồng mẫu

Abstract
In the coffee export contracts between Vietnamese enterprises and foreign partners reference is usually made to the model contract forms or general conditions issued by international coffee associations and federations. Failure to understand or acceptance of the entire contents of the model contract could lead to losses for Vietnamese enterprises. The paper analyses some articles of the European Contract for Coffee (ECC) of 2002 as well as the practical use of ECC in Vietnam (through collection, research and analysis of 13 export coffee contracts referencing ECC) and makes some recommendations for Vietnamese enterprises in the drafting and performance of the coffee export contracts.
Keywords: coffee export; model contracts; European Coffee Contract

1. Giới thiệu chung về Hợp đồng Cà phê Châu Âu (ECC)
Liên đoàn Cà phê Châu Âu (ECF- European Coffee Federation) đại diện cho ngành công nghiệp sản xuất cà phê hòa tan, hoạt động thương mại cà phê thô và ngành công nghiệp rang cà phê Châu Âu. ECF đã ban hành nhiều hợp đồng cà phê mẫu, trong đó mẫu hợp đồng được sử dụng chủ yếu trong xuất khẩu cà phê tại Việt Nam là ECC (European Contract for Coffee).
ECC có nhiều phiên bản khác nhau. Trước năm 2002, ECF có ban hành các mẫu hợp đồng khác nhau cho cà phê giao trong bao và cà phê giao hàng rời. Tuy nhiên, phiên bản năm 2002 được thiết kế để áp dụng cho cả hai dạng cà phê giao trong bao và hàng rời. Phiên bản ECC năm 2012 là bản sửa đổi từ phiên bản năm 2002, và có hiệu lực từ ngày 1/9/2012. Nhìn chung, so với ECC năm 2002, ECC năm 2012 quy định trách nhiệm và rủi ro của Người bán tăng lên.
ECC được soạn thảo bởi một tổ chức cà phê lớn và uy tín, tuy nhiên cần lưu ý rằng ECF được hình thành từ nỗ lực của các nhà nhập khẩu cà phê Châu Âu chứ không phải là từ các nhà xuất khẩu. Trong quá trình soạn thảo ECC, Ủy ban hợp đồng của ECF có tổ chức thu thập ý kiến từ các nhà xuất khẩu nhưng nhìn chung, việc soạn thảo các hợp đồng mẫu này lại nhằm phù hợp với đặc điểm thị trường nhập khẩu Châu Âu chứ không dựa vào đặc điểm tình hình của các nước xuất khẩu. Có thể nói, các phiên bản ECC quy định chặt chẽ các điều khoản trong hợp đồng nhằm mục đích đảm bảo lợi ích cho cả hai bên tham gia hợp đồng, đặc biệt là cho bên mua hàng. Bài viết này sẽ phân tích ECC các phiên bản năm 2002 và 2012 (các phiên bản được dẫn chiếu nhiều nhất trong các hợp đồng xuất khẩu cà phê của doanh nghiệp xuất khẩu cà phê Việt Nam hiện nay) .
2. Phân tích một số điều khoản của ECC
2.1. Điều khoản trọng lượng
Có hai vấn đề cần lưu ý liên quan đến điều khoản về trọng lượng hàng hóa: dung sai và miễn trừ.
Về dung sai: Theo Điều 2 của ECC, người bán phải giao hàng đúng trọng lượng trong hợp đồng. ECC cho phép dung sai là 3% so với trọng lượng quy định trong hợp đồng nhưng chỉ được áp dụng nếu nguyên nhân nằm ngoài tầm kiểm soát của Người bán . Quy định này bảo vệ lợi ích của người mua nhưng lại gây khó khăn cho người bán. Thứ nhất, dung sai 3% là mức thấp so với các mặt hàng nông sản khác (ví dụ như gạo thường là 5%) . Thứ hai, trong thực tiễn mua bán hàng hóa quốc tế, việc cho phép dung sai là để tạo một sự linh hoạt cần thiết và sự thuận lợi trong việc tổ chức việc thuê tàu và giao hàng và thường sẽ theo sự lựa chọn của người bán nếu người bán có nghĩa vụ thuê tàu. Đối với mặt hàng nông sản được giao với số lượng lớn thì việc đảm bảo chính xác trọng lượng trong hợp đồng không phải bao giờ cũng dễ dàng . Đây là điểm mà doanh nghiệp Việt Nam cần lưu ý đàm phán để có được quyền lựa chọn dung sai (tolerance at the Seller’s option) nếu xuất cà phê theo điều kiện CIF hay CFR hay theo các điều kiện khác mà mình phải tổ chức việc chuyên chở.
Về trọng lượng miễn trừ, đây là điểm gây ra khá nhiều tranh chấp trong thực tiễn thực hiện hợp đồng xuất khẩu cà phê của Việt Nam.
Trọng lượng miễn trừ là 0,5% và bất kỳ sự hao hụt trọng lượng nào ở nơi đến vượt quá 0,5%, người bán sẽ phải hoàn lại tiền theo ECC (Điều 2.e). Trong các mẫu hợp đồng trước năm 1998 của ECF, trọng lượng miễn trừ vẫn là 1%, ECC năm 2002 giảm từ 1% xuống 0,5% với lý do là khi việc hàng được chuyên chở bằng bao gói hay bằng container làm giảm một cách đáng kể việc hao hụt trong lượng . Ngay cả đối với vận chuyển hàng rời, ECC cho rằng sẽ hiếm khi có bất kỳ sự chênh lệch trọng lượng nếu cà phê được vận chuyển bằng những container được chèn lót và niêm phong kẹp chì. Theo nhận định của Hiệp hội cà phê ca cao Việt Nam (VICOFA) thì thay đổi về tỷ lệ miễn trừ này là một bất lợi với nhà xuất khẩu Việt Nam và không phù hợp với tình hình vận chuyển cà phê từ Việt Nam đến các cảng Châu Âu do các nguyên nhân về thay đổi thời tiết, độ ẩm, quãng đường chuyên chở dài. Cà phê có tính hút ẩm, điều này có nghĩa là cà phê hút hoặc mất độ ẩm phụ thuộc vào điều kiện môi trường. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã bị khiếu nại và phải hoàn lại tiền cho đối tác nước ngoài do tỷ lệ miễn trừ cao hơn 0,5% .
Có hai cách để doanh nghiệp xuất khẩu cà phê Việt Nam đàm phán liên quan đến vấn đề trọng lượng hàng:
- Một là, đàm phán để nâng trọng lượng miễn trừ lên 1%. Rõ ràng là điều kiện khí hậu ở Việt Nam là nóng ẩm và hoàn toàn khác biệt với điều kiện khô lạnh ở Châu Âu , vì vậy việc áp dụng tỷ lệ miễn trừ là 0,5% là không phù hợp.
- Hai là, đàm phán để áp dụng trọng lượng giao hàng ở cảng đi (shipped weight) và giấy chứng nhận trọng lượng ở cảng đi là cuối cùng. Về thời điểm tính trọng lượng hàng hóa, ECC có hai phương án: một là trọng lượng giao hàng ở cảng đi (shipped weight), hai là trọng lượng khi nhận hàng ở cảng đến (delivered/landed weight). Trong trường hợp thứ nhất, hóa đơn thanh toán ghi theo trọng lượng giao hàng ở cảng đi, còn trong trường hợp thứ hai thì hóa đơn của người bán chỉ là tạm tính, thanh toán thực tế sẽ theo trọng lượng tại cảng đến khi người mua nhận hàng. Ở vị trí người xuất khẩu, nên lựa chọn phương án đầu tiên và cần nêu rõ điều này trong hợp đồng. Hơn nữa, trong cả hai trường hợp, người bán phải cung cấp bằng chứng độc lập về trong lượng. Ngay cả khi trọng lượng giao hàng ở cảng đi được áp dụng thì giấy chứng nhận trọng lượng xác định tại cảng đi không là cuối cùng trừ khi các bên có thỏa thuận khác trong hợp đồng (Điều 3 ECC). Cũng như điều khoản chất lượng , về mặt pháp lý, điểm mấu chốt khi soạn thảo cũng như giải quyết tranh chấp liên quan đến trọng lượng là quy định giá trị của giấy chứng nhận trọng lượng. Như vậy, khi đàm phán hợp đồng, người bán cần chú ý thỏa thuận giá trị giấy chứng nhận trọng lượng ở cảng đi là cuối cùng. Nếu đàm phán để đưa được vào hợp đồng quy định này thì người mua sẽ không có quyền đòi hoàn tiền nữa mà phải thanh toán dựa trên trọng lượng ở cảng đi.
Về thời gian xác định trọng lượng tại cảng đến, ECC quy định rằng việc xác định trọng lượng (và lấy mẫu thử) diễn ra không quá 14 ngày làm việc. Thêm vào đó, ECC cho phép người mua cân những container (đóng bao hay hàng rời) đã được chuyển đến điểm đích cuối cùng trong nội địa. Điều này có nghĩa là bên bán phải chịu toàn bộ rủi ro thất thoát trọng lượng cà phê trên quãng đường tăng thêm từ cảng đến đến điểm cân trong nội địa- thường là kho của người mua, và thời gian vận chuyển này có thể kéo dài đến 14 ngày sau khi hàng được dỡ tại cảng đến cuối cùng. Nếu không thể đàm phán về trọng lượng miễn trừ theo một trong hai phương án ở trên thì người bán Việt Nam cũng nên lưu ý đàm phán để việc xác định trọng lượng được tiến hành sớm nhất có thể sau khi hàng đến cảng đến.
2.2. Điều khoản chất lượng
ECC quy định rằng chất lượng phải phù hợp theo đúng mô tả trong hợp đồng và hàng hóa có chất lượng phù hợp cho việc lưu thông hàng hóa, trừ khi có quy định khác trong HĐ (Điều 7(a) (b), ECC 2002). ECC còn cho phép Người mua đòi bồi thường nếu có bất kỳ sự khác biệt chất lượng nào.
Khảo sát các hợp đồng xuất khẩu cà phê mà doanh nghiệp Việt Nam ký kết, có thể thấy có 3 cách mà các doanh nghiệp thường sử dụng khi quy định về chất lượng.
- Quy định bằng mô tả: các bên thỏa thuận chất lượng cà phê thông qua các chỉ tiêu cụ thể, hay dựa vào hàm lượng các chất chủ yếu trong hàng hóa: độ ẩm tối đa, tạp chất tối đa, tỷ lệ hạt vỡ tối đa, tỷ lệ hạt đen, kích thước hạt, không có côn trùng…
- Quy định bằng mẫu: trong các hợp đồng xuất khẩu cà phê mà doanh nghiệp Việt Nam ký thường quy định mẫu do bên bán đưa ra và được bên mua chấp thuận.
- Quy định bằng cách dẫn chiếu đến một tiêu chuẩn.
Về cách thứ hai, các doanh nghiệp Việt Nam thường chỉ quy định về mẫu trước khi giao hàng phải được người mua chấp thuận (Pre shipment sample to be approved by buyer) mà chưa quy định việc bảo quản mẫu. Cần quy định về số lượng mẫu, cách thức bảo quản mẫu (ví dụ mẫu đối được lưu giữ bởi một cơ quan thứ ba độc lập để sử dụng khi các bên có tranh chấp). Vấn đề này cần được đặc biệt lưu tâm vì cà phê là mặt hàng mà chất lượng có thể thay đổi theo thời gian nếu không có biện pháp bảo quản một cách thích hợp (ví dụ như thay đổi về độ ẩm, về màu sắc, hay về mùi vị do tác động của môi trường), nguy cơ gây ra các bất đồng và tranh chấp khi thực hiện hợp đồng.
Về cách thứ ba, đây là cách mà một số hợp đồng xuất khẩu mà chúng tôi khảo sát đã sử dụng. Ví dụ hợp đồng xuất khẩu cà phê robusta giữa một người xuất khẩu Việt Nam và bên mua Đức (năm 2014) có dẫn chiếu đến rất nhiều tiêu chuẩn: ISO 6673/1983, ISO 4150/1980, ISO 3310-2/1990, TCVN 4334/2001, TCVN 4193/2005. Hơn nữa, cũng trong hợp đồng này, hai bên thống nhất giám định theo quy trình của một công ty giám định quốc tế. Không rõ nếu có sự mẫu thuẫn giữa các tiêu chuẩn này thì xử lý thế nào? Các tiêu chuẩn này đều có phương pháp giám định, có thể dẫn tới sự mâu thuẫn giữa tiêu chuẩn và quy trình giám định của công ty nước ngoài. Vì vậy, lời khuyên cho doanh nghiệp là cần phải nêu rõ tên tiêu chuẩn, năm ban hành, cơ quan ban hành tiêu chuẩn để tiện cho việc tham khảo, dẫn chiếu; chỉ nên dẫn chiếu đến một bộ tiêu chuẩn để tránh xảy ra mâu thuẫn giữa các bộ tiêu chuẩn.
Điều 8 của ECC quy định cụ thể cách lấy mẫu dùng cho mục đích đánh giá chất lượng cà phê đóng bao và cà phê đóng rời (có quy định thêm cách lấy mẫu cho phương thức vận tải bằng container). Địa điểm lấy mẫu kiểm tra phẩm chất ở đây là địa điểm nhận hàng (Điều 8(a), ECC 2002), điều này có nghĩa là người bán chịu mọi rủi ro về chất lượng hàng hóa trong toàn bộ quá trình vận chuyển hàng hóa và việc kiểm tra phẩm chất tại cảng đến có giá trị cuối cùng, quyết định.
Các quy định tại Điều 7 và Điều 8 ECC về lấy mẫu và kiểm tra chất lượng tại cảng đến là bất lợi cho người xuất khẩu Việt Nam. Cà phê là mặt hàng nông sản và chất lượng có thể biến đổi ít nhiều trong quá trình vận chuyển (ví dụ độ ẩm). Việc quy định về kiểm tra phẩm chất ở cảng đến là cuối cùng, cộng với việc cho phép người mua đòi bồi thường nếu có bất kỳ sự khác biệt nào đặt người bán ở vị trí bất lợi.
Doanh nghiệp xuất khẩu cà phê Việt Nam nên cố gắng đàm phán để việc kiểm tra phẩm chất tại cảng đi là chung thẩm và ràng buộc cả hai bên. Để có thể thuyết phục đối tác chấp nhận điều này, nên chỉ định một công ty giám định độc lập, chuyên nghiệp, đồng thời quy định về phương pháp, cách thức lấy mẫu và tiến hành giám định theo cách đã được quy định tại Điều 8 ECC.
2.3. Điều khoản đóng gói hàng hóa
Điều 5(a), ECC 2002 quy định rằng: “Cà phê sẽ được đóng gói trong bao sợi tự nhiên đồng nhất phù hợp với các quy định pháp lý đối với vật liệu đóng gói thực phẩm và quản lý chất lượng trong EU đang có hiệu lực trong thời gian ký kết hợp đồng”. Do đó, người bán cần nắm bắt được các yêu cầu pháp lý (mang tính bắt buộc) và yêu cầu c